Mục lục
- 1. Vết thương hở nhỏ bị đỏ và rỉ dịch: đang lành hay đã nhiễm khuẩn?
- 2. Dịch rỉ từ vết thương màu gì là bình thường, màu gì đáng lo?
- 3. Ai và loại vết thương nào dễ nhiễm khuẩn hơn?
- 4. Viêm mô tế bào là gì, vì sao vết đỏ lan rộng cần khám sớm?
- 5. Chăm sóc vết thương hở nhỏ tại nhà thế nào cho đúng?
- 6. Vì sao không nên tự dùng kháng sinh bôi hoặc uống?
- 7. Khi nào theo dõi tại nhà, khi nào đi khám sớm, khi nào cấp cứu?
- 8. Câu hỏi thường gặp
- 9. Tài liệu tham khảo
- 10. Đọc tiếp
Vết thương hở bị nhiễm khuẩn thường báo hiệu bằng năm thay đổi: vùng đỏ lan rộng dần, sưng nóng và đau tăng lên thay vì giảm, dịch chuyển sang đục hoặc có mủ, có mùi hôi, kèm sốt hoặc mệt. Ngược lại, viền đỏ mỏng quanh mép vết thương cùng ít dịch trong hoặc vàng nhạt trong 2–3 ngày đầu là phản ứng viêm của quá trình lành, chỉ cần rửa sạch, giữ ẩm, băng che và theo dõi. Điểm mấu chốt là xu hướng: lành bình thường thì mỗi ngày một dịu đi, nhiễm khuẩn thì mỗi ngày một nặng thêm. Người đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, trẻ nhỏ và người cao tuổi nên đi khám sớm hơn.
Tóm tắt nhanh
| Tình huống | Biểu hiện | Việc nên làm |
|---|---|---|
| Viêm lành bình thường | Viền đỏ mỏng, ít dịch trong hoặc vàng nhạt, đau giảm dần | Rửa sạch, giữ ẩm, băng che, thay băng hằng ngày |
| Nghi nhiễm khuẩn tại chỗ | Đỏ lan rộng, sưng nóng, đau tăng, dịch đục hoặc mủ, mùi hôi | Đi khám trong vòng 24 giờ; không tự mua kháng sinh |
| Nhiễm khuẩn đang lan | Vệt đỏ chạy dọc tay chân, sốt, rét run, hạch sưng đau | Đến cơ sở y tế ngay |
| Vết thương nguy cơ cao | Do động vật cắn, đinh gỉ đâm, dính đất bẩn; người có bệnh nền | Đi khám dù vết thương nhỏ; hỏi về phòng uốn ván, phòng dại |
Vết thương hở nhỏ bị đỏ và rỉ dịch: đang lành hay đã nhiễm khuẩn?
Ngay sau khi da bị rách, cơ thể khởi động pha viêm: mạch máu giãn, bạch cầu kéo đến dọn mô dập và vi khuẩn. Vì thế trong 2–3 ngày đầu, mép vết thương hơi đỏ, hơi sưng, ấm và rỉ ít dịch là điều thường gặp. Dịch tiết là một phần bình thường của quá trình lành và giữ vai trò quan trọng trong đó; việc cần làm là phân biệt dịch bình thường với dịch bất thường (Cutting, 2003).
Dấu hiệu kinh điển của nhiễm khuẩn gồm đau, đỏ, phù nề, nóng và mủ. Nghiên cứu trên 36 vết thương mạn tính cho thấy đau tăng dần, mùi hôi và vết thương toác rộng ra là những dấu hiệu có giá trị (Gardner và cộng sự, 2001); với vết thương mới, đau tăng theo ngày cũng là tín hiệu không nên bỏ qua.
| Đặc điểm | Viêm lành bình thường | Nghi nhiễm khuẩn |
|---|---|---|
| Vùng đỏ | Viền mỏng sát mép, nhạt dần | Lan ra da lành, rộng thêm mỗi ngày |
| Sưng, nóng | Nhẹ, giảm sau 2–3 ngày | Tăng dần, da căng bóng, sờ nóng rõ |
| Đau | Giảm dần theo ngày | Tăng dần, nhức theo nhịp mạch |
| Dịch | Ít, trong hoặc vàng nhạt, loãng | Đục, đặc, vàng xanh hoặc nâu; lượng tăng |
| Mùi | Không mùi | Mùi hôi rõ |
| Toàn thân | Bình thường | Sốt, rét run, mệt, hạch sưng đau |
Mẹo theo dõi: dùng bút bi vẽ viền quanh vùng đỏ và chụp ảnh mỗi ngày. Vùng đỏ vượt ra ngoài nét vẽ sau 12–24 giờ là lý do để đi khám.
Dịch rỉ từ vết thương màu gì là bình thường, màu gì đáng lo?
| Loại dịch | Hình thức | Ý nghĩa thường gặp |
|---|---|---|
| Dịch huyết thanh | Trong hoặc vàng nhạt, loãng như nước | Bình thường trong vài ngày đầu |
| Dịch huyết thanh lẫn máu | Hồng nhạt, loãng | Hay gặp ở vết thương mới hoặc sau thay băng |
| Dịch máu | Đỏ tươi | Đang chảy máu; ép chặt 10 phút không cầm thì đi khám |
| Dịch mủ | Đục, đặc, vàng, xanh hoặc nâu, có thể hôi | Gợi ý nhiễm khuẩn, cần đi khám |
Ba thay đổi đáng lo là dịch đang trong chuyển sang đục, lượng dịch tăng lên sau ngày thứ ba và xuất hiện mùi hôi. Với vết bỏng phồng nước bị vỡ, cách nhận định tương tự – xem bài Bỏng bô xe máy bị phồng nước, vỡ và chảy nước vàng.
Ai và loại vết thương nào dễ nhiễm khuẩn hơn?
Theo dõi 2.663 người có vết rách do chấn thương tại ba khoa cấp cứu, 69 người (2,6%) bị nhiễm khuẩn; nguy cơ cao hơn ở người đái tháo đường (nguy cơ tương đối 2,7), vết thương ở chân (4,1), vết thương nhiễm bẩn (2,0) và vết rách dài trên 5 cm (2,9) (Quinn và cộng sự, 2013). Các nhóm cần cảnh giác hơn:
- Đái tháo đường: nghiên cứu so sánh 102.493 người đái tháo đường với 203.518 người đối chứng tại Anh cho thấy nhóm đái tháo đường mắc mọi loại nhiễm khuẩn nhiều hơn, chênh lệch lớn ở nhiễm khuẩn xương khớp, nhiễm khuẩn huyết và viêm mô tế bào (Carey và cộng sự, 2018).
- Suy giảm miễn dịch, bệnh gan mạn, bệnh thận mạn: là các tình trạng nền bác sĩ phải nghĩ đến khi viêm mô tế bào không cải thiện với điều trị ban đầu (Raff và cộng sự, 2016).
- Vết thương do động vật hoặc người cắn: tại Mỹ, ước tính khoảng 10% vết người cắn, 20% vết chó cắn và tới 50% vết mèo cắn ở trẻ em bị nhiễm khuẩn (Bula-Rudas và cộng sự, 2018). Người bị cắn còn cần được tư vấn phòng dại.
- Vết thương bẩn, vết đâm sâu do đinh gỉ, gai, dính đất cát: là đường vào của vi khuẩn uốn ván. Uốn ván phòng được bằng vắc-xin nhưng vẫn gặp nhiều ở các nước thu nhập thấp và trung bình; độc tố của vi khuẩn gây co cứng cơ và người bệnh phải nằm viện nhiều tuần (Yen và cộng sự, 2019).
Viêm mô tế bào là gì, vì sao vết đỏ lan rộng cần khám sớm?
Viêm mô tế bào là nhiễm khuẩn lớp bì sâu và mô dưới da, biểu hiện bằng mảng đỏ lan rộng, nóng, sưng và đau khi ấn. Riêng tại Mỹ, mỗi năm có hơn 650.000 lượt nhập viện vì bệnh này. Trong khoảng 15% ca xác định được tác nhân, đa số là liên cầu tan huyết beta và tụ cầu vàng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hỏi bệnh và thăm khám, vì chưa có xét nghiệm đủ tin cậy và nhiều bệnh da khác trông rất giống (Raff và cộng sự, 2016).
Hướng dẫn của Hội Bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ nhấn mạnh thăm khám lâm sàng để chẩn đoán kịp thời, bởi nhiễm khuẩn da và mô mềm trải từ thể nông, nhẹ đến thể đe dọa tính mạng như viêm cân mạc hoại tử (Stevens và cộng sự, 2014). Dấu hiệu gợi ý nhiễm khuẩn đang lan gồm vệt đỏ chạy dọc tay chân hướng về nách, bẹn; hạch sưng đau; sốt, rét run.
Nhiễm khuẩn nông hơn ở da có thể gặp dưới dạng chốc hoặc nhọt; xem bài Bệnh chốc lở ở trẻ em có nguy hiểm không và Nhọt: nguyên nhân, triệu chứng và cách xử lý.
Chăm sóc vết thương hở nhỏ tại nhà thế nào cho đúng?
Với vết xước, vết đứt nông, sạch ở người khỏe mạnh, chăm sóc đúng tại nhà thường là đủ:
- Rửa tay bằng xà phòng trước khi chạm vào vết thương.
- Cầm máu: ép chặt bằng gạc sạch 5–10 phút, nâng cao vùng bị thương.
- Rửa dưới vòi nước sạch hoặc bằng nước muối sinh lý vài phút cho trôi hết đất cát. Tổng quan Cochrane gồm 13 thử nghiệm với 2.504 người cho thấy chưa đủ bằng chứng để khẳng định nước máy làm tăng hay giảm nhiễm khuẩn so với nước muối sinh lý, bằng chứng có độ tin cậy rất thấp (Fernandez và cộng sự, 2022). Điều quan trọng là rửa kỹ bằng nguồn nước sạch đang có.
- Lấy dị vật nhìn thấy được bằng nhíp đã lau cồn; dị vật cắm sâu thì để nguyên và đi khám.
- Không rắc thuốc bột, không đắp lá cây, kem đánh răng, mỡ động vật lên vết thương.
- Giữ ẩm nền vết thương bằng một lớp mỏng chất giữ ẩm trơ như vaselin, hoặc sản phẩm chăm sóc vết thương phù hợp theo tư vấn của dược sĩ. Môi trường ẩm giúp biểu mô hóa thuận lợi hơn và giảm hình thành sẹo so với để khô (Junker và cộng sự, 2013).
- Băng che và quan sát: dùng gạc không dính hoặc băng cá nhân, thay mỗi ngày và ngay khi băng ướt, bẩn; mỗi lần thay băng xem vùng đỏ, màu dịch, mức đau.
Vết thương dài, sâu, há miệng, ở mặt hoặc đi qua khớp cần được bác sĩ đánh giá để khâu hoặc dán mép, kể cả khi đã qua nhiều giờ.
Vì sao không nên tự dùng kháng sinh bôi hoặc uống?
- Lợi ích tuyệt đối nhỏ. Phân tích gộp các thử nghiệm trên vết thương không biến chứng cho thấy kháng sinh bôi dự phòng làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn so với giả dược (tỷ số nguy cơ 0,57), nhưng mức giảm tuyệt đối chỉ khoảng 3,1 điểm phần trăm. Trước tình trạng kháng kháng sinh, nhóm tác giả khuyến nghị dùng kháng sinh thận trọng và xem dung dịch sát khuẩn là lựa chọn thay thế hợp lý (Tong và cộng sự, 2018).
- Chất giữ ẩm trơ không kém hơn rõ rệt. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi trên 922 người sau thủ thuật da liễu, tỷ lệ nhiễm khuẩn là 2,0% ở nhóm bôi vaselin trắng và 0,9% ở nhóm bôi mỡ bacitracin, khác biệt không có ý nghĩa thống kê; không ai ở nhóm vaselin bị viêm da tiếp xúc dị ứng, so với 4 người ở nhóm bacitracin (Smack và cộng sự, 1996).
- Tự uống kháng sinh dễ che lấp và trì hoãn. Sai thuốc, sai liều, uống vài viên rồi bỏ khiến triệu chứng dịu tạm thời trong khi ổ nhiễm khuẩn vẫn tiến triển, đồng thời góp phần tạo vi khuẩn kháng thuốc.
Kháng sinh, dù bôi hay uống, cần được bác sĩ chỉ định sau khi khám. Xem thêm bài Ảnh hưởng của kháng thuốc kháng sinh đến việc chăm sóc vết thương.
Khi nào theo dõi tại nhà, khi nào đi khám sớm, khi nào cấp cứu?
Khi phân vân giữa hai mức, hãy chọn mức cao hơn.
| Mức độ | Dấu hiệu | Việc cần làm |
|---|---|---|
| Theo dõi tại nhà | Vết thương nông, sạch; viền đỏ mỏng không lan; dịch ít, trong hoặc vàng nhạt; đau giảm dần; không sốt | Rửa, giữ ẩm, băng che; đi khám nếu sau 2–3 ngày không dịu đi |
| Đi khám sớm (trong 24 giờ) | Đỏ lan vượt nét bút đánh dấu; sưng nóng, đau tăng; dịch đục, mủ, mùi hôi; vết thương do động vật cắn, đinh gỉ, dính đất bẩn, còn dị vật; không nhớ lịch tiêm uốn ván; người đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, trẻ nhỏ, người cao tuổi | Đến phòng khám hoặc bệnh viện; mang theo danh sách thuốc đang dùng |
| Cấp cứu ngay | Vệt đỏ chạy dọc tay chân; sốt cao, rét run, lơ mơ; đau dữ dội bất thường; da tím sẫm, nổi bọng nước; chảy máu không cầm; cứng hàm, khó nuốt, co cứng cơ sau vết thương bẩn | Gọi 115 hoặc đến khoa cấp cứu gần nhất |
Ghi chú chuyên môn
“Với vết thương hở nhỏ, câu hỏi quan trọng không phải là vết thương có đỏ hay không, mà là hôm nay so với hôm qua thế nào. Vết thương đang lành thì mỗi ngày một êm hơn; vết thương nhiễm khuẩn thì đỏ rộng thêm, đau tăng thêm, dịch đục dần. Hãy rửa sạch, giữ ẩm, băng che và đừng vội dùng kháng sinh khi chưa được khám. Người có bệnh nền hoặc vết thương do con vật cắn, đinh gỉ đâm nên đi khám ngay từ đầu.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào cần đi khám ngay?
- Vùng đỏ lan rộng dần, hoặc có vệt đỏ chạy dọc tay chân.
- Sưng nóng, đau tăng lên sau ngày thứ hai, thứ ba thay vì giảm.
- Dịch đục, có mủ, mùi hôi; sốt, rét run, hạch sưng đau.
- Vết thương do động vật hoặc người cắn, do đinh gỉ, dính đất bẩn, còn dị vật.
- Người đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, trẻ nhỏ, người cao tuổi.
Câu hỏi thường gặp
Vết thương chảy nước vàng có phải đã nhiễm khuẩn không?
Chưa chắc. Ít dịch vàng nhạt, trong, loãng trong vài ngày đầu là dịch huyết thanh của quá trình lành. Cần nghĩ đến nhiễm khuẩn khi dịch đục, đặc, tăng dần, có mùi hôi, kèm vùng đỏ lan rộng và đau tăng.
Có nên để vết thương hở cho khô thoáng để mau lành?
Không cần. Nền vết thương được giữ ẩm vừa phải và che phủ sạch lành thuận lợi hơn so với để khô đóng vảy cứng (Junker và cộng sự, 2013). Băng thấm ướt dịch cần được thay ngay.
Bị đinh gỉ đâm, vết thương rất nhỏ có cần tiêm phòng uốn ván không?
Nên đi khám trong ngày. Bác sĩ sẽ làm sạch vết thương và dựa vào lịch sử tiêm chủng của bạn để quyết định tiêm nhắc vắc-xin, có kèm huyết thanh kháng độc tố hay không.
Người đái tháo đường bị xước chân cần lưu ý gì?
Rửa sạch và băng che ngay, kiểm tra bàn chân mỗi ngày. Đi khám sớm nếu vết xước không khép miệng sau vài ngày hoặc có dấu hiệu đỏ, sưng, rỉ dịch đục; đồng thời kiểm soát đường huyết theo hướng dẫn của bác sĩ.
Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Cutting KF. Wound exudate: composition and functions. Br J Community Nurs. 2003;8(9 Suppl):suppl 4-9. doi:10.12968/bjcn.2003.8.sup3.11577. PMID 14685963. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/14685963/
- Gardner SE, Frantz RA, Doebbeling BN. The validity of the clinical signs and symptoms used to identify localized chronic wound infection. Wound Repair Regen. 2001;9(3):178-86. doi:10.1046/j.1524-475x.2001.00178.x. PMID 11472613. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11472613/
- Quinn JV, Polevoi SK, Kohn MA. Traumatic lacerations: what are the risks for infection and has the ‘golden period’ of laceration care disappeared? Emerg Med J. 2013;31(2):96-100. doi:10.1136/emermed-2012-202143. PMID 23314208. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/23314208/
- Carey IM, Critchley JA, DeWilde S, et al. Risk of Infection in Type 1 and Type 2 Diabetes Compared With the General Population: A Matched Cohort Study. Diabetes Care. 2018;41(3):513-521. doi:10.2337/dc17-2131. PMID 29330152. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29330152/
- Raff AB, Kroshinsky D. Cellulitis: A Review. JAMA. 2016;316(3):325-37. doi:10.1001/jama.2016.8825. PMID 27434444. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27434444/
- Stevens DL, Bisno AL, Chambers HF, et al. Practice guidelines for the diagnosis and management of skin and soft tissue infections: 2014 update by the Infectious Diseases Society of America. Clin Infect Dis. 2014;59(2):e10-52. doi:10.1093/cid/ciu444. PMID 24973422. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24973422/
- Bula-Rudas FJ, Olcott JL. Human and Animal Bites. Pediatr Rev. 2018;39(10):490-500. doi:10.1542/pir.2017-0212. PMID 30275032. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30275032/
- Yen LM, Thwaites CL. Tetanus. Lancet. 2019;393(10181):1657-1668. doi:10.1016/S0140-6736(18)33131-3. PMID 30935736. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30935736/
- Fernandez R, Green HL, Griffiths R, et al. Water for wound cleansing. Cochrane Database Syst Rev. 2022;9(9):CD003861. doi:10.1002/14651858.CD003861.pub4. PMID 36103365. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36103365/
- Junker JP, Kamel RA, Caterson EJ, et al. Clinical Impact Upon Wound Healing and Inflammation in Moist, Wet, and Dry Environments. Adv Wound Care (New Rochelle). 2013;2(7):348-356. doi:10.1089/wound.2012.0412. PMID 24587972. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24587972/
- Tong QJ, Hammer KD, Johnson EM, et al. A systematic review and meta-analysis on the use of prophylactic topical antibiotics for the prevention of uncomplicated wound infections. Infect Drug Resist. 2018;11:417-425. doi:10.2147/IDR.S151293. PMID 29588605. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29588605/
- Smack DP, Harrington AC, Dunn C, et al. Infection and allergy incidence in ambulatory surgery patients using white petrolatum vs bacitracin ointment. A randomized controlled trial. JAMA. 1996;276(12):972-7. PMID 8805732. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/8805732/
Đọc tiếp
- Các cấp độ bỏng — mức độ nghiêm trọng và cách xử trí
- Vết bỏng bị thâm đen phải làm sao — chăm sóc da sau khi vết thương lành
- Kiến càng đen cắn có sao không — xử lý vết côn trùng cắn
- Viêm da chốc lở — nguyên nhân, dấu hiệu và cách phòng tránh
- Viêm da mủ — bệnh da nhiễm khuẩn cần thận trọng
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ








