Mục lục
- 1. Thủy đậu là gì, vì sao nốt phỏng dễ lây?
- 2. Chăm sóc nốt thủy đậu tại nhà gồm những bước nào?
- 3. Trẻ bị thủy đậu có được tắm không?
- 4. Nốt thủy đậu nên bôi gì và cần tránh bôi gì?
- 5. Hạ sốt, giảm ngứa cho trẻ: vì sao không được dùng aspirin?
- 6. Làm sao nhận biết nốt thủy đậu bị bội nhiễm?
- 7. Trẻ nào bị thủy đậu cần đi khám ngay?
- 8. Làm gì để nốt thủy đậu hạn chế để lại sẹo?
- 9. Vắc-xin thủy đậu có giúp trẻ phòng bệnh?
- 10. Câu hỏi thường gặp
- 11. Tài liệu tham khảo
- 12. Đọc tiếp
Chăm sóc nốt thủy đậu ở trẻ đúng cách xoay quanh bốn việc: giữ da sạch và khô, không để trẻ gãi hay chọc vỡ nốt phỏng, hạ sốt bằng thuốc phù hợp (không dùng aspirin) và theo dõi sát dấu hiệu bội nhiễm. Ở trẻ khỏe mạnh, thủy đậu thường nhẹ và tự lui; các nốt phỏng nước lần lượt khô, đóng vảy rồi bong. Trẻ vẫn được tắm hằng ngày bằng nước ấm, mặc đồ cotton rộng, được cắt ngắn móng tay. Không đắp lá, không bôi kem đánh răng hay thuốc không rõ nguồn gốc lên nốt. Trẻ sơ sinh, trẻ suy giảm miễn dịch, hoặc khi nốt sưng đỏ, chảy mủ, trẻ sốt lại cần được đưa đi khám ngay.
Tóm tắt nhanh
| Giai đoạn | Thời điểm (ước tính) | Biểu hiện | Việc nên làm |
|---|---|---|---|
| Khởi phát | 1–2 ngày đầu | Sốt nhẹ, mệt, biếng ăn, nổi chấm đỏ | Nghỉ ngơi, uống đủ nước; hạ sốt không dùng aspirin |
| Nốt phỏng | Những ngày đầu phát ban | Mụn nước trong, rất ngứa, mọc nhiều đợt | Giữ sạch, khô; cắt móng tay; không chọc vỡ |
| Đóng vảy | Khoảng 1 tuần sau khi nổi ban | Nốt đục dần, khô thành vảy | Để vảy tự bong; khi mọi nốt đã đóng vảy, trẻ thường hết lây |
| Sau khi lành | Vài tuần tiếp theo | Vết hồng hoặc thâm nhạt, mờ dần | Che nắng, giữ ẩm vùng da mới lành |
Thủy đậu là gì, vì sao nốt phỏng dễ lây?
Thủy đậu (varicella) là bệnh truyền nhiễm do virus varicella-zoster (VZV) thuộc họ herpes gây ra, gặp chủ yếu ở trẻ nhỏ (Heininger và Seward, 2006). Dấu hiệu dễ nhận ra nhất là những nốt phỏng nước nhỏ, trong, trên nền da đỏ, rất ngứa, mọc thành nhiều đợt nên cùng lúc có thể thấy chấm đỏ, mụn nước và vảy.

Virus lây qua giọt bắn đường hô hấp và qua dịch trong nốt phỏng, từ vài ngày trước khi nổi ban cho đến khi mọi nốt đã đóng vảy. Vì vậy, chăm sóc nốt thủy đậu đúng cách vừa giúp da mau lành, vừa hạn chế lây cho người thân chưa có miễn dịch.
Phần lớn trẻ khỏe mạnh mắc ở mức nhẹ đến vừa, nhưng một ca nặng có thể có hơn 1.000 nốt; bệnh cũng có thể gây bội nhiễm vi khuẩn ở da, viêm phổi, tổn thương thần kinh trung ương (Heininger và Seward, 2006). Xem thêm bài Biến chứng thủy đậu và cách phòng ngừa. Sau khi khỏi bệnh, virus nằm im trong hạch thần kinh và nhiều năm sau có thể tái hoạt động gây zona thần kinh (Gershon và cộng sự, 2015) – xem bài Zona thần kinh: cách giúp nhanh lành, hạn chế sẹo.
Chăm sóc nốt thủy đậu tại nhà gồm những bước nào?
Mục tiêu là giữ mụn nước nguyên vẹn, sạch, khô để chúng tự đóng vảy, đồng thời giảm ngứa để trẻ không gãi:
- Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chạm vào nốt.
- Cắt ngắn, dũa tròn móng tay; trẻ nhỏ hay gãi khi ngủ có thể đeo bao tay vải mỏng ban đêm.
- Tắm hoặc lau người hằng ngày bằng nước ấm, sữa tắm dịu nhẹ; không kỳ cọ lên nốt.
- Thấm khô bằng khăn mềm, dùng khăn riêng và giặt sau mỗi lần dùng.
- Để nốt phỏng tự khô: không chọc, không nặn; nốt đã vỡ thì rửa nhẹ bằng nước muối sinh lý và để thoáng.
- Mặc đồ cotton rộng, giữ phòng mát; không ủ ấm vì mồ hôi làm ngứa tăng.
- Kiểm tra toàn thân mỗi ngày, kể cả da đầu, nếp bẹn, vùng mặc tã, để phát hiện sớm nốt sưng đỏ, có mủ.
Trẻ bị thủy đậu có được tắm không?
Có. “Kiêng nước, kiêng gió” khiến mồ hôi, bụi bẩn đọng trên da, làm ngứa tăng và tạo điều kiện cho vi khuẩn. Nên tắm nhanh bằng nước ấm trong phòng kín gió, dùng sữa tắm dịu nhẹ, không mùi; không dùng xà phòng diệt khuẩn mạnh, cồn hay khăn kỳ cọ; tắm xong thấm khô và mặc đồ rộng ngay. Khi trẻ sốt cao, mệt nhiều, có thể chỉ lau người bằng khăn ấm.
Tắm lá (chè xanh, kinh giới, lá khế…) chưa có bằng chứng lâm sàng giúp thủy đậu nhanh lành; nước lá tự nấu không vô khuẩn, bã lá chà lên da dễ làm vỡ nốt. Xem thêm bài Trẻ mắc thủy đậu có nên tắm lá?
Nốt thủy đậu nên bôi gì và cần tránh bôi gì?
Phần lớn nốt thủy đậu tự đóng vảy mà không cần thuốc bôi đặc biệt. Sản phẩm bôi ngoài da chỉ hỗ trợ làm dịu ngứa, giữ vùng da sạch, giúp trẻ bớt gãi.
| Tình huống | Có thể cân nhắc | Nên tránh |
|---|---|---|
| Ngứa nhiều | Chườm mát; lotion làm dịu như calamine lên nốt chưa vỡ | Cồn, dầu gió, dầu nóng, tinh dầu đậm đặc |
| Nốt đã vỡ, rỉ dịch | Nước muối sinh lý; sản phẩm làm sạch dịu nhẹ, không cồn, ghi rõ dùng được cho trẻ | Kem đánh răng, bột nghệ, lòng trắng trứng, lá giã nát |
| Thuốc có hoạt chất | Kháng sinh bôi, kháng virus: chỉ khi bác sĩ chỉ định | Tự ý bôi kem corticoid (chống viêm nhóm steroid) hoặc kháng sinh tràn lan |
Đọc kỹ nhãn (độ tuổi, thành phần, cách dùng), thử trước trên vùng da nhỏ; nếu da đỏ rát hơn thì ngừng và hỏi dược sĩ. Nốt ở mắt cần để bác sĩ kiểm tra.
Hạ sốt, giảm ngứa cho trẻ: vì sao không được dùng aspirin?
Aspirin và các thuốc nhóm salicylat không được dùng cho trẻ bị thủy đậu vì liên quan tới hội chứng Reye – bệnh hiếm nhưng rất nặng, gồm tổn thương não và gan nhiễm mỡ, thường xuất hiện sau cúm hoặc thủy đậu. Dữ liệu giám sát tại Hoa Kỳ cho thấy số ca ở trẻ em giảm từ đỉnh 555 ca năm 1980 xuống không quá 36 ca mỗi năm từ 1987, sau khi có cảnh báo về salicylat; 82% ca được báo cáo có salicylat trong máu, và tỷ lệ tử vong chung là 31% (Belay và cộng sự, 1999). Một số thuốc cảm, dầu xoa có thể chứa salicylat, nên hãy hỏi dược sĩ trước khi dùng.
Khi trẻ sốt, paracetamol là thuốc thường được hướng dẫn, liều tính theo cân nặng. Với ibuprofen, một nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm tại Ba Lan trên 458 trẻ nhập viện vì thủy đậu bội nhiễm ghi nhận dùng ibuprofen trước nhập viện liên quan với nguy cơ còn biến chứng sau điều trị cao gấp khoảng 4 lần và nguy cơ phải can thiệp ngoại khoa cao gấp khoảng 2,9 lần (Pokorska-Śpiewak và cộng sự, 2024). Đây là nghiên cứu quan sát, chưa chứng minh nhân quả, nhưng là lý do để hỏi bác sĩ trước khi dùng ibuprofen.
Bác sĩ có thể kê thuốc kháng histamin uống để giảm ngứa. Acyclovir chỉ dùng khi có chỉ định: tổng quan Cochrane gồm 3 thử nghiệm ở trẻ khỏe mạnh cho thấy thuốc giảm khoảng 1,1 ngày sốt và giảm số nốt tối đa, nhưng tác dụng giảm ngứa kém thuyết phục và ý nghĩa lâm sàng ở trẻ khỏe mạnh chưa chắc chắn (Klassen và cộng sự, 2005).
Làm sao nhận biết nốt thủy đậu bị bội nhiễm?
Bội nhiễm xảy ra khi vi khuẩn – thường là tụ cầu vàng hoặc liên cầu nhóm A (Streptococcus pyogenes) – xâm nhập qua nốt bị gãi, bị vỡ. Trong khảo sát toàn quốc 1 năm tại Đức ở trẻ vốn khỏe mạnh nhập viện vì biến chứng thủy đậu nặng, 26,0% có bội nhiễm da; liên cầu nhóm A là tác nhân vi khuẩn gặp nhiều nhất và là yếu tố nguy cơ chính của các ca nhiễm khuẩn xâm lấn để lại di chứng; biến chứng nhiễm khuẩn gặp chủ yếu ở trẻ đến 4 tuổi (Ziebold và cộng sự, 2001).

| Đặc điểm | Diễn tiến bình thường | Dấu hiệu bội nhiễm |
|---|---|---|
| Quanh nốt | Nền đỏ nhẹ, quầng nhỏ | Quầng đỏ lan rộng, sưng nề, nóng |
| Dịch, vảy | Dịch trong, đục nhẹ rồi khô | Mủ vàng đặc, có mùi; vảy vàng mật ong |
| Cảm giác | Ngứa là chính | Đau nhiều, trẻ không cho chạm vào |
| Toàn thân | Sốt giảm dần sau vài ngày đầu | Hạ sốt rồi sốt lại, li bì, bỏ ăn |
Vảy vàng mật ong quanh nốt cũng giống chốc lở; tham khảo bài Bệnh chốc lở ở trẻ em có nguy hiểm không.
Trẻ nào bị thủy đậu cần đi khám ngay?
Thủy đậu có thể nặng ở người suy giảm miễn dịch, trẻ nhũ nhi và người lớn (Gershon và cộng sự, 2015). Cần cho trẻ khám sớm nếu là trẻ sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi; trẻ suy giảm miễn dịch (đang điều trị ung thư, dùng corticoid liều cao kéo dài hoặc thuốc ức chế miễn dịch, sau ghép tạng); trẻ bị viêm da cơ địa lan rộng hoặc có bệnh nền nặng. Phụ nữ mang thai trong nhà chưa có miễn dịch mà đã tiếp xúc với trẻ bệnh cũng nên hỏi bác sĩ ngay.
Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Làm gì để nốt thủy đậu hạn chế để lại sẹo?
Nốt nông, không bị gãi và không nhiễm khuẩn thường lành để lại vết hồng hoặc thâm nhạt, mờ dần theo thời gian. Sẹo lõm hay gặp hơn khi nốt bị cạy, gãi rách hoặc bội nhiễm, vì tổn thương ăn sâu xuống lớp bì (lớp da nằm dưới thượng bì). Để hạn chế sẹo:
- Giữ móng tay trẻ ngắn và giảm ngứa để trẻ không gãi.
- Để vảy tự bong; không bóc vảy kể cả khi vảy đã bong một phần.
- Sau khi vảy bong, che nắng cho vùng da mới lành bằng quần áo, mũ rộng vành.
- Giữ ẩm vùng da mới lành bằng kem dưỡng dịu nhẹ, phù hợp độ tuổi.
- Nếu còn sẹo lõm rõ sau nhiều tháng, hỏi bác sĩ da liễu về hướng xử trí.
Vắc-xin thủy đậu có giúp trẻ phòng bệnh?
Có. Theo phân tích gộp trên trẻ có miễn dịch bình thường, 1 liều vắc-xin có hiệu quả 81% phòng mọi mức độ bệnh và 98% phòng bệnh mức trung bình – nặng; 2 liều nâng hiệu quả phòng mọi mức độ bệnh lên 92% (Marin và cộng sự, 2016). Trẻ đã tiêm vẫn có thể mắc nhưng thường nhẹ hơn. Hãy hỏi cơ sở tiêm chủng về lịch tiêm phù hợp; vắc-xin dùng để phòng, không dùng để điều trị khi trẻ đang có nốt.
Ghi chú chuyên môn
“Nhiều trẻ được đưa đến khám khi nốt thủy đậu đã vỡ, chảy mủ, chỉ vì mấy ngày đầu kiêng tắm, ủ kín hoặc đắp lá. Chăm sóc nốt thủy đậu cần rất ít thứ: nước ấm, sữa tắm dịu nhẹ, khăn sạch, móng tay cắt ngắn và sự quan sát của cha mẹ. Không dùng aspirin hạ sốt cho trẻ, và hỏi dược sĩ trước khi mua thuốc cảm, thuốc bôi. Trẻ hạ sốt rồi sốt lại, hoặc một nốt sưng đỏ, đau tăng lên – đừng chờ thêm, hãy đi khám.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào nên đi khám bác sĩ?
- Trẻ sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi hoặc trẻ suy giảm miễn dịch mắc thủy đậu hay vừa tiếp xúc người bệnh.
- Sốt cao kéo dài, hoặc đã hạ sốt rồi sốt lại.
- Nốt sưng đỏ lan rộng, nóng, đau, chảy mủ; vùng da tím sẫm hoặc đau dữ dội.
- Ho nhiều, thở nhanh, khó thở.
- Li bì, co giật, lú lẫn, đau đầu dữ dội, đi loạng choạng; nôn nhiều khi đang hồi phục.
- Nốt ở mắt, đỏ hoặc đau mắt; bỏ bú, bỏ ăn, tiểu ít; nhiều chấm xuất huyết dưới da.
Câu hỏi thường gặp
Trẻ bị thủy đậu cần nghỉ học bao lâu?
Trẻ nên ở nhà đến khi mọi nốt đã khô, đóng vảy và không mọc thêm nốt mới; khi đó trẻ thường hết khả năng lây.
Bị thủy đậu có phải kiêng gió, kiêng nước không?
Không cần. Trẻ vẫn nên được tắm nhẹ nhàng mỗi ngày, ở phòng thoáng mát; chỉ tránh gió lùa khi vừa tắm xong.
Đã bị thủy đậu có bị lại không?
Sau khi mắc, cơ thể có miễn dịch lâu dài với thủy đậu, nhưng miễn dịch này không ngăn virus tái hoạt động thành zona thần kinh về sau (Gershon và cộng sự, 2015).
Nốt thủy đậu ở miệng, vùng kín chăm sóc thế nào?
Nốt trong miệng: cho ăn đồ mềm, nguội, lau miệng bằng nước muối sinh lý. Nốt vùng kín: rửa nhẹ bằng nước ấm, thấm khô, thay tã thường xuyên. Trẻ đau khi tiểu hoặc bỏ ăn uống cần đi khám.
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Heininger U, Seward JF. Varicella. Lancet. 2006;368(9544):1365-76. doi:10.1016/S0140-6736(06)69561-5. PMID 17046469. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/17046469/
- Gershon AA, Breuer J, Cohen JI, et al. Varicella zoster virus infection. Nat Rev Dis Primers. 2015;1:15016. doi:10.1038/nrdp.2015.16. PMID 27188665. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27188665/
- Klassen TP, Hartling L, Wiebe N, et al. Acyclovir for treating varicella in otherwise healthy children and adolescents. Cochrane Database Syst Rev. 2005;2005(4):CD002980. doi:10.1002/14651858.CD002980.pub3. PMID 16235308. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/16235308/
- Belay ED, Bresee JS, Holman RC, et al. Reye’s syndrome in the United States from 1981 through 1997. N Engl J Med. 1999;340(18):1377-82. doi:10.1056/NEJM199905063401801. PMID 10228187. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/10228187/
- Pokorska-Śpiewak M, Szenborn L, Pietrzak M, et al. Treatment outcomes and their predictors in children hospitalized with varicella complicated by bacterial superinfections after pandemic of COVID-19 – a retrospective multicenter analysis of real-life data in Poland. Eur J Clin Microbiol Infect Dis. 2024;43(12):2293-2300. doi:10.1007/s10096-024-04944-2. PMID 39305363. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39305363/
- Ziebold C, von Kries R, Lang R, et al. Severe complications of varicella in previously healthy children in Germany: a 1-year survey. Pediatrics. 2001;108(5):E79. PMID 11694663. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11694663/
- Marin M, Marti M, Kambhampati A, et al. Global Varicella Vaccine Effectiveness: A Meta-analysis. Pediatrics. 2016;137(3):e20153741. doi:10.1542/peds.2015-3741. PMID 26908671. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26908671/
Đọc tiếp
- Chăm sóc bé bị thủy đậu — giúp nốt mau khô, hạn chế sẹo
- Zona thần kinh và giời leo — khi virus thủy đậu tái hoạt động
- Bệnh tay chân miệng có lây không — một bệnh phát ban hay gặp ở trẻ
- Viêm da tiếp xúc ở trẻ — nguyên nhân, biểu hiện, cách phòng
- Rôm sảy ở trẻ em — bệnh da thường gặp mùa nóng
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ








