Mục lục
- 1. Viêm họng là gì và nguyên nhân thường gặp là gì?
- 2. Dấu hiệu viêm họng do virus và do liên cầu khác nhau thế nào?
- 3. Test nhanh liên cầu là gì, có cần làm không?
- 4. Viêm họng có cần uống kháng sinh không?
- 5. Chăm sóc họng tại nhà đúng cách gồm những bước nào?
- 6. Corticosteroid liều thấp có giúp đỡ đau họng nhanh hơn không?
- 7. Viêm họng kéo dài, hay tái lại thì nên nghĩ tới điều gì?
- 8. Dấu hiệu nguy hiểm nào cần đi khám ngay, và trẻ em, người có bệnh nền cần lưu ý gì?
- 9. Câu hỏi thường gặp
- 10. Tài liệu tham khảo
- 11. Đọc tiếp
Viêm họng phần lớn do virus, thường tự lui sau vài ngày tới khoảng một tuần, và việc chính là giảm đau, uống đủ nước, theo dõi dấu hiệu nặng. Một tổng quan hệ thống ghi nhận đa số ca đau họng do virus và tự khỏi (Fraser và cộng sự, 2020). Kháng sinh chỉ đặt ra khi nghi do vi khuẩn, chủ yếu là liên cầu nhóm A, và lợi ích về triệu chứng khá nhỏ (Spinks và cộng sự, 2021). Bài này tóm tắt nguyên nhân viêm họng, dấu hiệu, cách chăm sóc họng tại nhà và lúc nào cần đi khám.
Tóm tắt nhanh
| Câu hỏi | Trả lời ngắn |
|---|---|
| Nguyên nhân thường gặp? | Virus là chủ yếu; vi khuẩn hay gặp là liên cầu nhóm A |
| Có tự khỏi không? | Đa số có; khoảng 8 trên 10 người hết đau họng sau một tuần dù không dùng kháng sinh |
| Khi nào cần kháng sinh? | Khi bác sĩ nghi ngờ hoặc xác định nhiễm liên cầu |
| Chăm sóc tại nhà? | Giảm đau, uống đủ nước, nghỉ ngơi, giữ ẩm họng |
| Cần đi khám ngay khi nào? | Khó thở, chảy dãi, không nuốt được, cứng cổ, sưng lệch một bên họng |
Viêm họng là gì và nguyên nhân thường gặp là gì?
Viêm họng là tình trạng niêm mạc họng, có khi cả amidan, bị viêm. Người bệnh thấy đau rát, vướng, đau khi nuốt, đôi khi kèm sốt và mệt. Đây là một trong những lý do hay gặp khiến người bệnh đi khám và được kê kháng sinh, dù việc dùng kháng sinh quá mức trong chăm sóc ban đầu đang là mối lo chung (Spinks và cộng sự, 2021).
Các nhóm nguyên nhân chính gồm:
- Virus đường hô hấp: chiếm phần lớn các ca đau họng; cả viêm họng do virus lẫn do vi khuẩn phần nhiều tự khỏi trong vòng vài tuần (Fraser và cộng sự, 2020).
- Liên cầu nhóm A: ở trẻ em, vi khuẩn này chiếm khoảng 20–40% ca viêm họng, phần còn lại do virus (Cohen và cộng sự, 2016). Các nguồn chúng tôi đọc không nêu tỷ lệ riêng cho người lớn.
- Virus Epstein-Barr: gây bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, với bộ ba hay gặp là sốt, viêm họng và hạch to. Bệnh này dễ bị nhầm với viêm amidan do vi khuẩn (Naughton và cộng sự, 2021).
- Nguyên nhân không do nhiễm trùng: không khí khô, khói thuốc, nói nhiều, dịch mũi chảy xuống họng, trào ngược. Nhóm này hay gây đau rát kéo dài hơn là cơn viêm cấp; phần trào ngược được bàn ở mục dưới.
Ở trẻ nhỏ, đau họng kèm loét miệng và nổi bóng nước ở lòng bàn tay, bàn chân có thể là bệnh tay chân miệng, cần cách theo dõi riêng. Viêm họng hạt, viêm họng mạn tính hay viêm họng do liên cầu là những nhánh hẹp hơn; bài này chỉ nêu tổng quan để bạn biết mình đang ở nhóm nào.
Dấu hiệu viêm họng do virus và do liên cầu khác nhau thế nào?
Dấu hiệu chung của viêm họng là đau rát họng, đau tăng khi nuốt, họng đỏ, có thể sốt, đau đầu, mệt. Chỉ nhìn bằng mắt thì rất khó biết do virus hay do vi khuẩn. Bác sĩ thường dựa vào một nhóm dấu hiệu gọi là thang điểm Centor; thang McIsaac cộng thêm yếu tố tuổi. Bảng dưới đây là mô tả lâm sàng chung, dùng để tham khảo, không dùng để tự chẩn đoán.

| Đặc điểm | Nghiêng về virus | Nghiêng về liên cầu nhóm A |
|---|---|---|
| Ho, sổ mũi, khàn tiếng | Hay có | Thường không có |
| Sốt | Có thể có, thường nhẹ | Hay có |
| Amidan | Đỏ, ít khi có mủ | Sưng, có thể có mảng mủ trắng |
| Hạch cổ phía trước | Có thể to nhẹ | Sưng, đau khi ấn |
| Tuổi | Mọi lứa tuổi | Hay gặp hơn ở trẻ em, thiếu niên |
| Kết luận chắc chắn | Cần bác sĩ khám, có thể kèm test nhanh hoặc cấy dịch họng | |
Thang điểm chỉ giúp phân loại, không thay được xét nghiệm. Một tổng quan hệ thống gộp 14 nghiên cứu ở bệnh nhân viêm họng đến khoa cấp cứu hoặc phòng khám bệnh viện cho thấy Centor và McIsaac đều kém trong việc chọn ra người cần kháng sinh: đặt ngưỡng cao thì bỏ sót nhiều ca thật sự nhiễm liên cầu, đặt ngưỡng thấp thì kê kháng sinh dư cho nhiều người không cần (Kanagasabai và cộng sự, 2024). Vì vậy, bác sĩ thường dặn người bệnh quay lại nếu triệu chứng nặng lên, thay vì chỉ dựa vào điểm số.
Một điểm hay bị bỏ qua: bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do virus Epstein-Barr cũng có thể gây sốt, amidan sưng, hạch to, rất giống viêm amidan do vi khuẩn. Chẩn đoán đúng sớm giúp tránh dùng kháng sinh không cần thiết và tránh làm thêm nhiều xét nghiệm tốn kém (Naughton và cộng sự, 2021).
Test nhanh liên cầu là gì, có cần làm không?
Test nhanh phát hiện kháng nguyên liên cầu nhóm A lấy mẫu bằng que quệt họng, cho kết quả ngay tại chỗ khám trong khoảng 5–10 phút. So với cấy dịch họng ở phòng xét nghiệm, tổng quan Cochrane trên trẻ em viêm họng ghi nhận độ nhạy khoảng 85,6% và độ đặc hiệu khoảng 95,4% (Cohen và cộng sự, 2016). Nói dễ hiểu: cứ 100 trẻ thật sự nhiễm liên cầu thì test nhanh phát hiện được khoảng 86 trẻ và bỏ sót khoảng 14 trẻ. Khi test dương tính, khả năng nhiễm liên cầu thật là cao, nên kết quả này giúp tránh dùng kháng sinh không cần.
Ở người từ 5 tuổi trở lên có điểm Centor hoặc McIsaac từ 3 trở lên, các test tại chỗ có độ nhạy từ khoảng 83% tới 95% và độ đặc hiệu từ khoảng 85% tới 99%, nhưng kết quả giữa các nghiên cứu chênh nhau nhiều. Có một số bằng chứng từ thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy dùng test nhanh có thể giúp giảm kê kháng sinh. Nhóm tác giả không tìm thấy dữ liệu cho người cao tuổi hay cho việc làm test ở nhà thuốc (Fraser và cộng sự, 2020).
Như vậy, test nhanh hữu ích khi bác sĩ thấy có dấu hiệu nghi liên cầu. Với người có ho, sổ mũi rõ, dấu hiệu nghiêng hẳn về cảm lạnh thông thường, bác sĩ có thể quyết định không cần test. Việc làm test hay không là do người khám quyết định.
Viêm họng có cần uống kháng sinh không?
Phần lớn trường hợp là không. Tổng quan Cochrane cập nhật năm 2021 gộp 29 thử nghiệm với 15.337 ca đau họng, so sánh kháng sinh với giả dược hoặc không điều trị (Spinks và cộng sự, 2021). Những kết quả chính:
- Ở nhóm không dùng kháng sinh, 82% người đã hết triệu chứng sau một tuần.
- Kháng sinh giúp giảm đau họng và đau đầu ở ngày thứ ba; cần điều trị chưa tới 6 người để thêm 1 người hết đau ở ngày thứ ba, và 18 người để thêm 1 người hết đau sau một tuần.
- Kháng sinh không làm giảm sốt ở ngày thứ ba một cách có ý nghĩa.
- Kháng sinh làm giảm biến chứng viêm tai giữa và áp xe quanh amidan, nhưng các biến chứng này vốn ít gặp.
- Tác hại của kháng sinh được báo cáo sơ sài, nên tổng quan không định lượng được.
Nhóm tác giả lưu ý phần lớn thử nghiệm được làm từ thập niên 1950, khi biến chứng nặng như thấp tim phổ biến hơn hiện nay nhiều. Họ kết luận lợi ích về triệu chứng có thể nhỏ, bác sĩ cần cân nhắc từng người, xem nguyên nhân có khả năng do vi khuẩn hay không, và đặt lợi ích đó cạnh nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc (Spinks và cộng sự, 2021).
Điều này có nghĩa là: không tự mua kháng sinh khi viêm họng, không dùng lại đơn cũ, không chia thuốc cho người khác. Khi bác sĩ đã kê kháng sinh vì nghi hoặc xác định liên cầu, hãy dùng đủ liều và đủ ngày theo đơn (gợi ý thực hành).
Chăm sóc họng tại nhà đúng cách gồm những bước nào?
Với viêm họng cấp thông thường, chăm sóc tại nhà nhằm giảm đau và giúp cơ thể tự hồi phục. Một tổng quan hệ thống cũ hơn rà 17 thử nghiệm với 22 cách xử trí không dùng kháng sinh; hiệu quả so với giả dược dao động từ không có tác dụng tới khá rõ, nhưng nhóm tác giả cảnh báo sai lệch xuất bản có thể đã phóng đại lợi ích (Thomas và cộng sự, 2000). Các bước dưới đây là cách làm thận trọng, dễ áp dụng:
- Giảm đau, hạ sốt khi cần: paracetamol hoặc ibuprofen là hai thuốc hay được dùng. Dùng đúng liều theo cân nặng, tuổi và theo hướng dẫn của dược sĩ; người đau dạ dày, bệnh thận, đang mang thai cần hỏi trước khi dùng ibuprofen.
- Uống đủ nước: uống từng ngụm nhỏ, nước ấm hoặc mát tùy cảm giác dễ chịu; ăn đồ mềm, nguội bớt.
- Nghỉ ngơi, nói ít: để họng và cơ thể hồi phục.
- Giữ ẩm không khí, tránh khói thuốc: hạn chế điều hòa quá lạnh và khô, không hút thuốc, tránh khói bếp.
- Súc họng nước muối ấm nếu thấy dễ chịu: đây là thói quen phổ biến, không tốn kém.
- Theo dõi dấu hiệu nặng: nếu sau 3–5 ngày không đỡ hoặc nặng lên, hãy đi khám.
Cần nói thẳng về bước 5: trong lần tra PubMed cho bài này, chúng tôi không tìm được thử nghiệm ngẫu nhiên đáng tin nào đo riêng tác dụng của súc nước muối lên viêm họng cấp. Bước 2 đến 6 là gợi ý thực hành, không rút từ thử nghiệm; mốc 3–5 ngày cũng là gợi ý thận trọng của ban biên soạn. Với trẻ còn nhỏ chưa biết súc họng, không nên ép trẻ súc vì dễ sặc.
Về các hoạt chất dùng tại họng: benzydamine là thuốc chống viêm không steroid dùng tại chỗ. Một phân tích gộp 13 thử nghiệm ngẫu nhiên với 1.842 người lớn cho thấy benzydamine bôi tại chỗ làm giảm tỷ lệ đau họng sau đặt ống nội khí quản khi gây mê, nhưng không làm giảm mức độ đau một cách có ý nghĩa (Kuriyama và cộng sự, 2018). Lưu ý đây là đau họng sau phẫu thuật, không phải viêm họng do nhiễm trùng. Chlorhexidine là chất sát khuẩn khoang miệng; trong một tổng quan về nước súc miệng cho viêm niêm mạc do xạ trị, các tác dụng phụ như rát miệng, thay đổi vị giác, đau họng được ghi nhận, nhất là với chlorhexidine và benzydamine (Manoharan và cộng sự, 2020). Chưa có bằng chứng chắc chắn rằng các dung dịch này rút ngắn đợt viêm họng cấp; nên hỏi dược sĩ trước khi dùng và không dùng kéo dài.
Corticosteroid liều thấp có giúp đỡ đau họng nhanh hơn không?
Có bằng chứng cho thấy có, nhưng mức lợi ích vừa phải và đây là thuốc do bác sĩ quyết định. Tổng quan Cochrane năm 2020 gộp 9 thử nghiệm ngẫu nhiên với 1.319 người (369 trẻ em và 950 người lớn) bị đau họng. Ở 8 thử nghiệm, cả nhóm dùng corticosteroid lẫn nhóm giả dược đều được dùng kháng sinh (de Cassan và cộng sự, 2020). Kết quả:
- Corticosteroid uống hoặc tiêm bắp, dùng thêm vào kháng sinh và thuốc giảm đau, làm khả năng hết hẳn đau sau 24 giờ tăng 2,4 lần và sau 48 giờ tăng 1,5 lần.
- Cứ điều trị 5 người thì có thêm 1 người hết đau ở mốc 24 giờ.
- Thời gian bắt đầu đỡ đau ngắn hơn khoảng 6 giờ, thời gian hết đau ngắn hơn khoảng 11,6 giờ.
- Không thấy khác biệt về tái phát, ngày nghỉ học, nghỉ làm hay tác dụng phụ, nhưng tác dụng phụ được báo cáo sơ sài.
Nhóm tác giả lưu ý số thử nghiệm còn ít, đặc biệt dữ liệu ở trẻ em hạn chế, và cần thêm nghiên cứu về lợi ích, tác hại của các đợt corticosteroid ngắn. Tổng quan này cũng loại trừ người bị tăng bạch cầu đơn nhân và áp xe quanh amidan (de Cassan và cộng sự, 2020). Vì thế, corticosteroid không phải thuốc tự mua để chữa đau họng thông thường.
Viêm họng kéo dài, hay tái lại thì nên nghĩ tới điều gì?
Khi đau rát, vướng họng kéo dài nhiều tuần hoặc lặp đi lặp lại, nguyên nhân thường không còn là một đợt nhiễm virus đơn thuần. Một vài hướng hay gặp:
- Trào ngược họng thanh quản: dịch từ dạ dày trào lên có thể gây hắng giọng, khàn tiếng, ho, cảm giác vướng như có cục trong họng, đau họng hoặc có đờm ở họng. Hiện chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng, và người bệnh đáp ứng với điều trị không giống nhau, nên cần bác sĩ đánh giá (Krause và Yadlapati, 2024).
- Thói quen và môi trường: hút thuốc, uống rượu, nói nhiều, thở bằng miệng do nghẹt mũi, ngồi lâu trong phòng điều hòa khô. Đây là nhận định chung, được bàn kỹ hơn ở bài riêng về thói quen gây viêm họng.
- Viêm họng mạn tính, viêm họng hạt: niêm mạc họng bị kích thích kéo dài, hay kèm hắng giọng, khô họng. Chẩn đoán cần khám tai mũi họng.
- Bệnh lý răng miệng: sâu răng, cao răng, viêm lợi trùm ở răng khôn có thể gây đau lan ra vùng họng, dễ nhầm với viêm họng.
Đau họng một bên kéo dài, khàn tiếng trên 2–3 tuần, nuốt vướng tăng dần, sụt cân hay khạc ra máu là các dấu hiệu cần khám chuyên khoa sớm, nhất là ở người hút thuốc lâu năm (gợi ý thực hành).
Dấu hiệu nguy hiểm nào cần đi khám ngay, và trẻ em, người có bệnh nền cần lưu ý gì?
Viêm họng thường lành tính, nhưng một số trường hợp là cấp cứu. Áp xe quanh amidan là một biến chứng mủ đã được ghi nhận của viêm họng (Spinks và cộng sự, 2021); dấu hiệu hay gặp là đau họng dữ dội lệch một bên, khó há miệng, giọng nói như ngậm hột thị. Các dấu hiệu dưới đây là mô tả lâm sàng chung, cần đi khám ngay:

- Khó thở, thở rít, phải ngồi cúi người ra trước để thở.
- Chảy dãi vì không nuốt được nước bọt, không uống được nước.
- Sưng lệch một bên họng, không há được miệng.
- Cứng cổ, sưng vùng cổ, không quay được cổ.
- Sốt cao kéo dài, li bì, phát ban.
Với trẻ em, hãy để ý trẻ bỏ ăn, bỏ bú, quấy khóc, ít đi tiểu, sốt cao. Liều thuốc giảm đau, hạ sốt ở trẻ tính theo cân nặng; không tự cho trẻ dùng kháng sinh hay corticosteroid. Nếu trẻ ho nhiều về đêm kèm theo, có thể tham khảo bài cách giảm ho cho trẻ vào ban đêm. Người có bệnh nền như tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận, suy giảm miễn dịch, người cao tuổi và phụ nữ mang thai nên đi khám sớm hơn, không đợi nhiều ngày. Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Ghi chú chuyên môn
“Phần lớn các đợt viêm họng cấp sẽ tự lui; điều cần làm là giảm đau đúng liều, uống đủ nước và để ý các dấu hiệu nặng. Kháng sinh hay corticosteroid đều có chỗ dùng, nhưng là quyết định của bác sĩ sau khi khám. Khi đau họng kéo dài nhiều tuần, nên đi khám tai mũi họng thay vì thử hết loại này đến loại khác.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào nên đi khám bác sĩ tai mũi họng?
- Khó thở, thở rít, chảy dãi, không nuốt được nước: đi cấp cứu ngay.
- Đau họng dữ dội lệch một bên, khó há miệng, cứng hoặc sưng cổ.
- Sốt cao, amidan có mủ, hạch cổ sưng đau.
- Sau 3–5 ngày chăm sóc không đỡ, hoặc đau họng tái đi tái lại nhiều lần.
- Khàn tiếng, vướng họng kéo dài trên 2–3 tuần.
- Trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người có bệnh nền.
Câu hỏi thường gặp
Viêm họng bao lâu thì khỏi?
Phần lớn đỡ trong khoảng một tuần; trong nhóm không dùng kháng sinh của tổng quan Cochrane, 82% hết triệu chứng sau một tuần (Spinks và cộng sự, 2021).
Viêm họng có lây không?
Viêm họng do virus hay liên cầu có thể lây qua giọt bắn và tay. Rửa tay, che miệng khi ho, không dùng chung cốc là gợi ý thực hành.
Súc họng nước muối có chữa được viêm họng không?
Có thể giúp dễ chịu, nhưng chúng tôi không tìm được thử nghiệm đáng tin chứng minh nó rút ngắn bệnh.
Đau họng có nên ăn đồ lạnh không?
Không có nguồn nào chúng tôi đọc bàn tới; chọn đồ ăn uống làm họng dễ chịu nhất, tránh đồ quá nóng, cay (gợi ý thực hành).
Viêm họng tái phát nhiều lần có phải cắt amidan không?
Không phải ai cũng cần. Việc này do bác sĩ tai mũi họng đánh giá dựa trên số đợt, mức độ nặng và biến chứng.
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Fraser H, Gallacher D, Achana F, et al. Rapid antigen detection and molecular tests for group A streptococcal infections for acute sore throat: systematic reviews and economic evaluation. Health Technol Assess. 2020;24(31):1-232. doi:10.3310/hta24310. PMID 32605705. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32605705/
- Spinks A, Glasziou PP, Del Mar CB. Antibiotics for treatment of sore throat in children and adults. Cochrane Database Syst Rev. 2021;12(12):CD000023. doi:10.1002/14651858.CD000023.pub5. PMID 34881426. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34881426/
- Cohen JF, Bertille N, Cohen R, et al. Rapid antigen detection test for group A streptococcus in children with pharyngitis. Cochrane Database Syst Rev. 2016;7(7):CD010502. doi:10.1002/14651858.CD010502.pub2. PMID 27374000. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27374000/
- Naughton P, Healy M, Enright F, et al. Infectious Mononucleosis: diagnosis and clinical interpretation. Br J Biomed Sci. 2021;78(3):107-116. doi:10.1080/09674845.2021.1903683. PMID 33721513. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33721513/
- Kanagasabai A, Evans C, Jones HE, et al. Systematic review and meta-analysis of the accuracy of McIsaac and Centor score in patients presenting to secondary care with pharyngitis. Clin Microbiol Infect. 2024;30(4):445-452. doi:10.1016/j.cmi.2023.12.025. PMID 38182052. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38182052/
- Thomas M, Del Mar C, Glasziou P. How effective are treatments other than antibiotics for acute sore throat? Br J Gen Pract. 2000;50(459):817-20. PMID 11127175. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11127175/
- Kuriyama A, Aga M, Maeda H. Topical benzydamine hydrochloride for prevention of postoperative sore throat in adults undergoing tracheal intubation for elective surgery: a systematic review and meta-analysis. Anaesthesia. 2018;73(7):889-900. doi:10.1111/anae.14224. PMID 29377080. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29377080/
- Manoharan V, Fareed N, Battur H, et al. Effectiveness of mouthrinses in prevention and treatment of radiation induced mucositis: A systematic review. J Cancer Res Ther. 2020;16(Supplement):S1-S10. doi:10.4103/jcrt.JCRT_176_18. PMID 33380645. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33380645/
- de Cassan S, Thompson MJ, Perera R, et al. Corticosteroids as standalone or add-on treatment for sore throat. Cochrane Database Syst Rev. 2020;5(5):CD008268. doi:10.1002/14651858.CD008268.pub3. PMID 32356360. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32356360/
- Krause AJ, Yadlapati R. Review article: Diagnosis and management of laryngopharyngeal reflux. Aliment Pharmacol Ther. 2024;59(5):616-631. doi:10.1111/apt.17858. PMID 38192086. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38192086/
Đọc tiếp
- Cao răng là gì — nguyên nhân hình thành
- Cao răng tự rơi ra có tốt không
- Tay chân miệng — lưu ý khi dùng thuốc
- Thủy đậu ở trẻ — chăm sóc nốt phỏng
- Da tổn thương do đeo khẩu trang — cách giảm kích ứng
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ














