Mục lục
- 1. Tay chân miệng hiện nay ra sao?
- 2. Biến chứng tay chân miệng xảy ra như thế nào?
- 3. Biến chứng thần kinh do tay chân miệng gồm những gì?
- 4. Tay chân miệng có gây viêm cơ tim, phù phổi không?
- 5. Trẻ nào dễ bị biến chứng tay chân miệng?
- 6. Cha mẹ cần làm gì để không bỏ lỡ biến chứng?
- 7. Trẻ đã qua biến chứng có để lại di chứng không?
- 8. Câu hỏi thường gặp
- 9. Tài liệu tham khảo
- 10. Đọc tiếp
Biến chứng tay chân miệng nguy hiểm nhất là tổn thương thần kinh (viêm màng não, viêm thân não, viêm não, liệt mềm cấp) và rối loạn tim phổi (phù phổi, suy tim, sốc), hay gặp khi trẻ nhiễm virus EV71. Phần lớn trẻ chỉ sốt, loét miệng, nổi nốt rồi tự khỏi. Ở số ít trẻ, virus tấn công thân não, nơi điều khiển nhịp thở, nhịp tim, huyết áp, và bệnh có thể chuyển sang phù phổi, sốc trong vài giờ. Bộ Y tế (Quyết định 292/QĐ-BYT ngày 06/02/2024) xếp các biến chứng này từ độ 2b tới độ 4. Trẻ từng bị nặng có thể còn di chứng.
Tóm tắt nhanh
| Câu hỏi | Trả lời ngắn |
|---|---|
| Biến chứng thần kinh? | Viêm màng não vô khuẩn, viêm thân não, viêm não tủy, liệt mềm cấp |
| Biến chứng tim phổi? | Mạch nhanh, tăng huyết áp, phù phổi cấp, suy tim, trụy mạch |
| Có phải virus làm viêm cơ tim? | Với EV71, suy tim phổi chủ yếu xuất phát từ thân não |
| Di chứng? | Yếu liệt chi, chậm phát triển, nhiều nhất ở trẻ từng suy tim phổi |
Tay chân miệng hiện nay ra sao?
Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP. Hồ Chí Minh, tuần 42 (12–18/10/2026) thành phố ghi nhận 1.800 ca, tăng 7,9% so với trung bình 4 tuần trước; lũy kế từ đầu năm hơn 42.315 ca (VTV, 24/10/2026). Cả nước có gần 100.000 ca tính tới bài báo ngày 06/10/2026, 87,3% là trẻ dưới 5 tuổi, theo Cục Phòng bệnh (Báo Đầu tư, 06/10/2026). Phần lớn ca nhẹ; không chủ quan nhưng không hoang mang. Số liệu theo tuần: tình hình tay chân miệng cập nhật mới nhất.
Biến chứng tay chân miệng xảy ra như thế nào?
Bệnh do nhiều virus đường ruột gây ra, lây qua tay, đồ chơi, dịch tiết, phân (xem tay chân miệng lây qua đường nào). Một tổng quan mô tả EV71 gây bệnh từ thể tay chân miệng thông thường tới viêm màng não vô khuẩn, liệt mềm cấp giống bại liệt, viêm thân não, phù phổi và trụy tim phổi; phim cộng hưởng từ thấy viêm ở sừng trước tủy sống, cầu não và hành não. Sốt cao, li bì là dấu hiệu dự báo bệnh nặng, và chưa có thuốc kháng virus được chứng minh hiệu quả (Ooi và cộng sự, 2010). Các vùng này điều khiển vận động và nhịp tim, nhịp thở, nên trẻ có thể vừa có dấu hiệu thần kinh vừa rối loạn tim phổi.
Biến chứng thần kinh do tay chân miệng gồm những gì?
Hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2024 nêu viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não và nhấn mạnh: “Giật mình chới với là dấu hiệu quan trọng báo hiệu biến chứng thần kinh.”
| Biến chứng | Biểu hiện hay gặp | Mức độ |
|---|---|---|
| Viêm màng não vô khuẩn | Sốt, nôn, quấy khóc | Thường nhẹ nhất nhóm |
| Viêm thân não | Giật mình chới với, run chi, đi loạng choạng, nuốt sặc | Có thể chuyển nhanh sang suy tim phổi |
| Viêm não, viêm não tủy | Ngủ gà, li bì, co giật, hôn mê | Nặng |
| Liệt mềm cấp | Một tay hoặc chân yếu, mềm nhũn | Dễ để lại yếu chi |
Tổng hợp từ Quyết định 292/QĐ-BYT và các nghiên cứu dưới đây; biểu hiện viêm màng não là gợi ý thực hành. Không dùng để tự chẩn đoán.
Trong vụ dịch EV71 ở Đài Loan năm 1998, 41 trẻ có biến chứng thần kinh: 37 viêm thân não, 3 viêm màng não vô khuẩn, 4 liệt mềm cấp. Triệu chứng khởi đầu hay gặp nhất là giật cơ; tử vong do viêm thân não là 14%; 7 trẻ không hề có nốt da hay loét miệng (Huang và cộng sự, 1999). Ở Sydney năm 2013, trong 57 trẻ sống sót, biểu hiện đầu tiên là sốt (100%), giật cơ (86%), đi loạng choạng (54%), nôn (54%); viêm não tủy chiếm 40%, viêm thân não 35%, liệt mềm cấp 7% (Teoh và cộng sự, 2016).
Tay chân miệng có gây viêm cơ tim, phù phổi không?
Có. Bộ Y tế liệt kê nhóm biến chứng tim mạch, hô hấp gồm viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch, với biểu hiện mạch nhanh trên 150 lần/phút, da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh, thở nhanh, rút lõm ngực, sùi bọt hồng.

Điều ít người biết: với EV71, tim thường không bị virus phá trực tiếp. Ở Sarawak (Malaysia) năm 1997, 29 trẻ dưới 6 tuổi tử vong vì suy tim phổi tiến triển nhanh; 24 trẻ siêu âm đều có thất trái co bóp kém, 17 trẻ phù phổi, ngừng tim phổi trung vị 9 giờ sau nhập viện. Nhưng mô tim của 10 trẻ được khám nghiệm bình thường, còn thân não viêm, hoại tử; tác giả kết luận suy tim phổi có nguồn gốc thần kinh (Chan và cộng sự, 2000). Ở Sydney, cả 4 trẻ phù phổi đều có tổn thương mặt sau thân não (Teoh và cộng sự, 2016). Vì vậy, chờ trẻ khó thở mới đi viện là quá muộn. Theo phân độ Bộ Y tế, độ 3 có mạch trên 170 lần/phút, huyết áp tăng, SpO2 dưới 94%; độ 4 có ngưng thở, phù phổi cấp, sốc. Cơ chế khác ở cúm, xem biến chứng của cúm A.
Trẻ nào dễ bị biến chứng tay chân miệng?
- Gộp 19 nghiên cứu: sốt từ 3 ngày (OR 10,09), li bì (OR 7,75), nôn (OR 8,83), nhiễm EV71 (OR 5,13) và tuổi nhỏ liên quan tới thể nặng; được chẩn đoán đúng ngay lần khám đầu giảm nguy cơ (OR 0,30) (Fang và cộng sự, 2014).
- Gộp 29 nghiên cứu: EV71 (OR 4,44), vệ sinh tay kém, không bú mẹ, nhà đông trẻ liên quan tới thể nặng; phát ban thì không (Li và cộng sự, 2021).
Đây là nghiên cứu quan sát ở Trung Quốc. Ý nghĩa thực tế: nhiều hay ít nốt không nói lên mức nặng; hãy theo dõi cơn sốt, giấc ngủ, tinh thần. Ban giống tay chân miệng có thể là bệnh khác: phân biệt tay chân miệng với thủy đậu, nhiệt miệng.
Cha mẹ cần làm gì để không bỏ lỡ biến chứng?
Không có thuốc dùng tại nhà ngăn được biến chứng; biến chứng được xử trí tại bệnh viện. Việc của gia đình là phát hiện sớm (gợi ý thực hành):
- Đo và ghi nhiệt độ nhiều lần trong ngày.
- Quan sát lúc trẻ vừa chợp mắt: giật mình chới với, run tay chân.
- Để ý li bì, khó đánh thức, nôn nhiều, quấy khóc vô cớ.
- Nhìn da và nhịp thở: da tái, nổi vân, vã mồ hôi, chi lạnh, thở nhanh.
- Có dấu hiệu bất thường là đi khám ngay, không chờ sáng; tái khám đúng hẹn.

Danh sách dấu hiệu đầy đủ xem dấu hiệu tay chân miệng chuyển nặng; các mức độ theo ngày xem bài trụ tay chân miệng: dấu hiệu theo từng ngày và khi nào phải nhập viện.
Trẻ đã qua biến chứng có để lại di chứng không?
Phụ thuộc chủ yếu vào việc trẻ có từng suy tim phổi hay không. Ở Đài Loan, 142 trẻ nhiễm EV71 có tổn thương thần kinh được theo dõi trung vị 2,9 năm. Trong 28 trẻ từng suy tim phổi, 64% yếu, teo chi, 61% phải ăn qua ống, 57% cần máy thở và 75% chậm phát triển. Ngược lại, trẻ tổn thương thần kinh không kèm suy tim phổi phát triển tốt; thể giống bại liệt còn yếu chi ở 9 trong 16 trẻ (Chang và cộng sự, 2007). Một nghiên cứu ở Trung Quốc theo dõi 176 trẻ trung vị 4,3 năm: bất thường thần kinh giảm từ 25% lúc ra viện xuống 10%; 41% trẻ từng thở máy có rối loạn thông khí (Liang và cộng sự, 2021). Ở Sydney, 90% trẻ hồi phục vận động sau 12 tháng (Teoh và cộng sự, 2016). Trẻ từng bị nặng nên được theo dõi vận động, phát triển và hô hấp lâu dài. Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Ghi chú chuyên môn
“Biến chứng nặng của tay chân miệng thường bắt đầu từ thần kinh rồi mới tới tim phổi, và diễn tiến nhanh. Cha mẹ không cần nhớ tên biến chứng, chỉ cần nhớ: trẻ sốt cao kéo dài, giật mình, li bì hay thở khác thường là phải đi khám ngay.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào nên đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay?
- Giật mình chới với, run tay chân, đi loạng choạng.
- Sốt cao khó hạ hoặc kéo dài trên 48 giờ.
- Nôn nhiều, li bì, khó đánh thức.
- Yếu, mềm nhũn một tay hoặc chân.
- Thở nhanh, khó thở, da nổi vân tím, chi lạnh: gọi cấp cứu 115.
Câu hỏi thường gặp
Biến chứng tay chân miệng thường xuất hiện lúc nào?
Thường sớm: ở Sarawak, trẻ tử vong chỉ bị bệnh trung vị 2 ngày trước khi nhập viện (Chan và cộng sự, 2000).
Trẻ nổi ít nốt có bị biến chứng không?
Có thể. Phát ban không liên quan tới thể nặng (Li và cộng sự, 2021).
Viêm màng não do tay chân miệng có để lại di chứng không?
Trẻ tổn thương thần kinh không kèm suy tim phổi thường phát triển tốt (Chang và cộng sự, 2007), nhưng vẫn cần tái khám.
Trẻ từng bị nặng cần theo dõi gì?
Vận động, phát triển, hô hấp, nhất là trẻ từng thở máy (Liang và cộng sự, 2021).
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Ooi MH, Wong SC, Lewthwaite P, et al. Clinical features, diagnosis, and management of enterovirus 71. Lancet Neurol. 2010;9(11):1097-105. doi:10.1016/S1474-4422(10)70209-X. PMID 20965438. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/20965438/
- Huang CC, Liu CC, Chang YC, et al. Neurologic complications in children with enterovirus 71 infection. N Engl J Med. 1999;341(13):936-42. doi:10.1056/NEJM199909233411302. PMID 10498488. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/10498488/
- Teoh HL, Mohammad SS, Britton PN, et al. Clinical Characteristics and Functional Motor Outcomes of Enterovirus 71 Neurological Disease in Children. JAMA Neurol. 2016;73(3):300-7. doi:10.1001/jamaneurol.2015.4388. PMID 26785318. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26785318/
- Chan LG, Parashar UD, Lye MS, et al. Deaths of children during an outbreak of hand, foot, and mouth disease in sarawak, malaysia: clinical and pathological characteristics of the disease. For the Outbreak Study Group. Clin Infect Dis. 2000;31(3):678-83. doi:10.1086/314032. PMID 11017815. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/11017815/
- Fang Y, Wang S, Zhang L, et al. Risk factors of severe hand, foot and mouth disease: a meta-analysis. Scand J Infect Dis. 2014;46(7):515-22. doi:10.3109/00365548.2014.907929. PMID 24832848. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24832848/
- Li P, Huang Y, Zhu D, et al. Risk Factors for Severe Hand-Foot-Mouth Disease in China: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Pediatr. 2021;9:716039. doi:10.3389/fped.2021.716039. PMID 34858899. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34858899/
- Chang LY, Huang LM, Gau SS, et al. Neurodevelopment and cognition in children after enterovirus 71 infection. N Engl J Med. 2007;356(12):1226-34. doi:10.1056/NEJMoa065954. PMID 17377160. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/17377160/
- Liang L, Cheng Y, Li Y, et al. Long-term neurodevelopment outcomes of hand, foot and mouth disease inpatients infected with EV-A71 or CV-A16, a retrospective cohort study. Emerg Microbes Infect. 2021;10(1):545-554. doi:10.1080/22221751.2021.1901612. PMID 33691598. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33691598/
Nguồn tin trong nước:
- VTV (24/10/2026). TP Hồ Chí Minh ghi nhận hơn 1.800 ca tay chân miệng trong tuần (số liệu Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP. Hồ Chí Minh, tuần 42/2026). https://vtv.vn/tp-ho-chi-minh-ghi-nhan-hon-1800-ca-tay-chan-mieng-trong-tuan-100261024102604264.htm
- Báo Đầu tư (06/10/2026). Tay chân miệng gia tăng tại Hà Nội, cảnh báo nguy cơ dịch bệnh phức tạp. https://baodautu.vn/tay-chan-mieng-gia-tang-tai-ha-noi-canh-bao-nguy-co-dich-benh-phuc-tap-d714194.html
Nguồn hướng dẫn chuyên môn:
- Bộ Y tế (06/02/2024). Quyết định 292/QĐ-BYT ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh Tay chân miệng (mục Biến chứng; Phân độ lâm sàng). https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-292-QD-BYT-2024-Huong-dan-chan-doan-dieu-tri-benh-Tay-chan-mieng-598415.aspx
Đọc tiếp
- Trẻ bị tay chân miệng đau miệng, biếng ăn: cho ăn uống thế nào
- Tay chân miệng: chăm sóc nốt phỏng ngoài da và loét miệng cho trẻ
- Tay chân miệng ở người lớn
- Chăm sóc bé bị tay chân miệng tại nhà
- Cách phòng bệnh tay chân miệng
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ








