Mục lục
- 1. Tay chân miệng đang diễn biến ra sao?
- 2. Trẻ chảy dãi nhiều khi bị tay chân miệng có đáng lo không?
- 3. Chảy dãi do đau miệng hay do tổn thương thần kinh: phân biệt thế nào?
- 4. Tay chân miệng nôn ói: khi nào nhẹ, khi nào là dấu hiệu nặng?
- 5. Mắt đờ đẫn, nhìn ngược, rung giật nhãn cầu nói lên điều gì?
- 6. Nôn và đau miệng làm trẻ mất nước: nhận biết và cho uống thế nào?
- 7. Khi nào đưa trẻ đi viện ngay, khi nào gọi cấp cứu 115?
- 8. Câu hỏi thường gặp
- 9. Tài liệu tham khảo
- 10. Đọc tiếp
Chảy dãi khi bị tay chân miệng thường do vết loét trong miệng làm trẻ đau, ngại nuốt; còn nôn ói nhiều, mắt nhìn ngược, mắt đờ đẫn kèm lừ đừ là dấu hiệu bệnh có thể đã ảnh hưởng tới thần kinh. Với trẻ tay chân miệng nôn ói, hướng dẫn của Bộ Y tế xếp “Nôn ói nhiều” vào nhóm dấu hiệu phải tái khám ngay. Chảy dãi kèm nuốt sặc, giọng nói thay đổi, hoặc mắt rung giật, lác mắt, đi loạng choạng thuộc độ 2b. Bài này giúp cha mẹ phân biệt từng dấu hiệu và biết lúc nào phải đưa trẻ đi viện.
Tóm tắt nhanh
| Dấu hiệu | Ý nghĩa thường gặp |
|---|---|
| Chảy dãi, vẫn nuốt được | Đau do loét miệng; chăm sóc, cho uống tại nhà |
| Chảy dãi kèm nuốt sặc, đổi giọng | Có thể là liệt dây thần kinh sọ (độ 2b): đi viện ngay |
| Nôn 1–2 lần, sau đó uống lại được | Theo dõi sát tại nhà |
| Nôn ói nhiều | Tái khám ngay (QĐ 292/QĐ-BYT) |
| Mắt nhìn ngược, rung giật nhãn cầu, lừ đừ | Dấu hiệu thần kinh: đi viện ngay |
Tay chân miệng đang diễn biến ra sao?
Theo CDC Hà Nội, tuần 16–23/10/2026: “Số ca tay chân miệng trong tuần là 153, giảm 77 trường hợp so với tuần trước”; lũy kế từ đầu năm 6.397 ca, chưa ghi nhận ca tử vong (VTV, 26/10/2026). Ở TP.HCM, CDC thành phố ghi nhận tuần 42 (12–18/10/2026) có 1.800 ca, tăng 7,9% so với trung bình 4 tuần trước; lũy kế hơn 42.315 ca (VTV, 24/10/2026). Không chủ quan nhưng không hoang mang.
Trẻ chảy dãi nhiều khi bị tay chân miệng có đáng lo không?
Phần lớn là không. Theo Quyết định 292/QĐ-BYT (06/02/2024), ở giai đoạn toàn phát, các vết loét đỏ hay phỏng nước 2–3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi “gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt”. Một tổng quan dành cho bác sĩ gia đình mô tả vết loét miệng gây đau là biểu hiện điển hình, tổn thương thường lành sau 7–10 ngày; điều trị là hỗ trợ, tập trung vào bù nước và giảm đau, không khuyến cáo lidocain dùng trong miệng (Saguil và cộng sự, 2019).
Chảy dãi chỉ đáng lo khi đi kèm dấu hiệu khác. Hướng dẫn của Bộ Y tế xếp “Liệt thần kinh sọ: nuốt sặc, thay đổi giọng nói” vào độ 2b nhóm 2, tức biến chứng thần kinh nặng. Lúc này nước dãi chảy vì trẻ không điều khiển được động tác nuốt, chứ không chỉ vì đau. Cách chăm sóc miệng khi loét xem bài chăm sóc nốt phỏng ngoài da và loét miệng cho trẻ.
Chảy dãi do đau miệng hay do tổn thương thần kinh: phân biệt thế nào?
| Điểm quan sát | Thường do loét miệng | Gợi ý tổn thương thần kinh |
|---|---|---|
| Uống một ngụm nước mát | Nhăn mặt vì đau nhưng vẫn nuốt được | Nuốt sặc, ho sặc mỗi lần uống |
| Giọng nói, tiếng khóc | Như thường, có thể khóc vì đau | Giọng thay đổi, tiếng khóc yếu hoặc khác lạ |
| Mức tỉnh táo | Quấy vì đau nhưng vẫn chơi, nhìn theo người | Lừ đừ, ngủ gà, gọi khó tỉnh |
| Mắt | Nhìn bình thường | Nhìn ngược, rung giật nhãn cầu, lác mắt |
| Dấu hiệu đi kèm | Thấy rõ vết loét trong miệng | Giật mình, run tay chân, đi loạng choạng |
Bảng là gợi ý quan sát của ban biên soạn, dựa trên các dấu hiệu nêu trong QĐ 292/QĐ-BYT; chỉ bác sĩ mới đánh giá được độ bệnh.

Tay chân miệng nôn ói: khi nào nhẹ, khi nào là dấu hiệu nặng?
Nôn một, hai lần rồi uống lại được, vẫn chơi thì theo dõi sát tại nhà. QĐ 292/QĐ-BYT đưa “Nôn ói nhiều” vào danh sách dấu hiệu trẻ đang điều trị ngoại trú phải tái khám ngay; ở độ 2a, sốt trên 39°C hoặc sốt trên 2 ngày kèm nôn nhiều, lừ đừ, khó ngủ, quấy khóc vô cớ đã được xếp là biến chứng thần kinh.
Các phân tích gộp từ Trung Quốc cho cùng một hướng:
- 19 nghiên cứu: nôn liên quan với thể nặng, tỷ số chênh 8,83; sốt từ 3 ngày trở lên (10,09) và lừ đừ (7,75) cũng là yếu tố nguy cơ (Fang và cộng sự, 2014).
- 11 nghiên cứu: nôn (6,023), run chi (42,348), lừ đừ (31,791), co giật (23,652) liên quan với thể nặng (Sun và cộng sự, 2018).
- 29 nghiên cứu với 9.241 ca nặng: sốt, sốt kéo dài, nôn, lừ đừ, co giật đều liên quan với thể nặng, còn phát ban thì không (Li và cộng sự, 2021).
Đây là nghiên cứu quan sát; không phải trẻ nào nôn cũng chuyển nặng. Nhưng nhiều hay ít nốt ban không nói lên mức nặng, còn nôn, sốt kéo dài và lừ đừ thì cần để ý.
Mắt đờ đẫn, nhìn ngược, rung giật nhãn cầu nói lên điều gì?
Mắt “đờ đẫn” là cách cha mẹ hay tả, nên cần tách hai tình huống. Trẻ sốt cao thường mệt, mắt lờ đờ; khi hạ sốt, trẻ tỉnh lại, nhìn theo người, chịu chơi. Ngược lại, trẻ vẫn lừ đừ, ngủ gà khi đã hết sốt, gọi khó tỉnh, hoặc mắt có cử động bất thường thì phải đi viện (gợi ý thực hành).
Hướng dẫn của Bộ Y tế mô tả biến chứng thần kinh gồm: “Ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược”; “Rung giật nhãn cầu, lác mắt” được xếp vào độ 2b nhóm 2. Lý do là EV71 có thể gây viêm thân não, vùng điều khiển cử động mắt, nuốt và thở. Trong đợt dịch ở Đài Loan năm 1998, 37 trong 41 trẻ có biến chứng thần kinh bị viêm thân não: nhẹ là giật cơ, run, đi loạng choạng; nặng hơn là kèm tổn thương dây thần kinh sọ; tỷ lệ tử vong của viêm thân não là 14% (Huang và cộng sự, 1999). Một tổng quan về EV71 nêu sốt cao và lừ đừ là dấu hiệu dự báo bệnh nặng, và chưa có thuốc kháng virus được xác lập (Ooi và cộng sự, 2010).
Cách đếm cơn giật mình xem bài trẻ giật mình khi ngủ.
Nôn và đau miệng làm trẻ mất nước: nhận biết và cho uống thế nào?
Trẻ vừa nôn vừa sợ nuốt nên dễ thiếu nước. QĐ 292/QĐ-BYT ghi “Không bú hoặc ăn bú quá ít” là dấu hiệu phải tái khám ngay. Tổng quan 13 nghiên cứu trên trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi cho thấy ba dấu hiệu có giá trị khi khám là thời gian đổ đầy mao mạch kéo dài, độ đàn hồi da giảm và kiểu thở bất thường; lời kể bệnh sử chỉ có giá trị vừa phải (Steiner và cộng sự, 2004). Vì vậy, cha mẹ nên ghi số lần tiểu, số lần nôn, lượng uống để báo bác sĩ thay vì tự đoán.
Cho trẻ uống khi trẻ vừa nôn (gợi ý thực hành):
- Chờ khoảng 15–30 phút sau lần nôn rồi mới cho uống lại.
- Cho từng ngụm nhỏ bằng thìa hoặc xi lanh, cách vài phút một lần.
- Dùng nước mát, sữa mát, cháo loãng nguội; tránh đồ chua, mặn, nóng làm rát vết loét.
- Trẻ còn bú mẹ thì cho bú nhiều cữ ngắn; dung dịch bù nước điện giải chỉ dùng khi bác sĩ, dược sĩ khuyên.
- Ghi giờ tiểu; trẻ không tiểu trong 6–8 giờ hoặc nôn hết mọi thứ uống vào thì đi khám.
Trẻ nôn nhiều vẫn cần được khám, vì nôn có thể là dấu hiệu thần kinh chứ không chỉ là chuyện thiếu nước. Gợi ý chọn món xem cho trẻ ăn uống khi đau miệng.
Khi nào đưa trẻ đi viện ngay, khi nào gọi cấp cứu 115?
Hướng dẫn của Bộ Y tế dặn tái khám ngay khi có: “Sốt trên 39°C hoặc kéo dài trên 48 giờ”; “Nôn ói nhiều”; “Lừ đừ hoặc kích thích”; “Không bú hoặc ăn bú quá ít”; “Giật mình”; “Thở nhanh, khó thở”; “Da nổi vân tím (nổi bông)”; “Hôn mê, co giật”. Chia theo mức khẩn (gợi ý thực hành):

- Đưa đi viện ngay: nôn nhiều lần; chảy dãi kèm nuốt sặc hay đổi giọng; mắt nhìn ngược, rung giật nhãn cầu; lừ đừ, giật mình, đi loạng choạng, run tay chân.
- Gọi cấp cứu 115: thở nhanh, khó thở, tím tái, da nổi vân tím, co giật, hôn mê, gọi không tỉnh.
Theo QĐ 292/QĐ-BYT, biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện khoảng ngày 2–5 của bệnh, có khi tới ngày 7, nên những ngày này cần quan sát cả ban đêm. Diễn tiến theo từng ngày xem bài trụ Tay chân miệng: dấu hiệu theo từng ngày, các mức độ và khi nào phải nhập viện; tổng hợp dấu hiệu nặng xem dấu hiệu tay chân miệng chuyển nặng. Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Ghi chú chuyên môn
“Khi trẻ chảy dãi, hãy cho trẻ uống một ngụm nước mát và nghe tiếng khóc, giọng nói. Nuốt được, giọng như thường thì phần lớn là do đau miệng. Nuốt sặc, giọng khác, mắt nhìn bất thường hoặc nôn liên tục là lúc đưa trẻ đi viện.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào nên đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay?
- Nôn ói nhiều lần, nôn hết nước uống vào.
- Chảy dãi kèm nuốt sặc, giọng nói hay tiếng khóc thay đổi.
- Mắt nhìn ngược, rung giật nhãn cầu, lác mắt.
- Lừ đừ, ngủ gà, giật mình, đi loạng choạng.
- Bỏ bú, uống quá ít, tiểu ít.
- Thở nhanh, khó thở, da nổi vân tím, co giật.
Câu hỏi thường gặp
Chảy dãi do loét miệng kéo dài bao lâu?
Thường bớt dần khi vết loét lành, khoảng 7–10 ngày (Saguil và cộng sự, 2019).
Mắt trẻ lờ đờ khi sốt cao có phải biến chứng?
Chưa chắc. Nếu hạ sốt xong trẻ tỉnh, chơi được thì thường do mệt. Vẫn lừ đừ khi hết sốt, mắt nhìn ngược hay rung giật thì đi viện ngay.
Có nên tự cho trẻ uống thuốc chống nôn?
Không nên tự dùng. Nôn nhiều là dấu hiệu phải tái khám theo QĐ 292/QĐ-BYT; bác sĩ cần tìm nguyên nhân nôn trước (gợi ý thực hành).
Trẻ ít nốt ban có nghĩa là bệnh nhẹ?
Không suy ra được. Trong phân tích gộp 29 nghiên cứu, phát ban không liên quan với thể nặng, còn nôn và lừ đừ thì có (Li và cộng sự, 2021).
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Saguil A, Kane SF, Lauters R, et al. Hand-Foot-and-Mouth Disease: Rapid Evidence Review. Am Fam Physician. 2019;100(7):408-414. PMID 31573162. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/31573162/
- Fang Y, Wang S, Zhang L, et al. Risk factors of severe hand, foot and mouth disease: a meta-analysis. Scand J Infect Dis. 2014;46(7):515-22. doi:10.3109/00365548.2014.907929. PMID 24832848. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24832848/
- Sun BJ, Chen HJ, Chen Y, et al. The Risk Factors of Acquiring Severe Hand, Foot, and Mouth Disease: A Meta-Analysis. Can J Infect Dis Med Microbiol. 2018;2018:2751457. doi:10.1155/2018/2751457. PMID 30046361. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30046361/
- Li P, Huang Y, Zhu D, et al. Risk Factors for Severe Hand-Foot-Mouth Disease in China: A Systematic Review and Meta-Analysis. Front Pediatr. 2021;9:716039. doi:10.3389/fped.2021.716039. PMID 34858899. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34858899/
- Huang CC, Liu CC, Chang YC, et al. Neurologic complications in children with enterovirus 71 infection. N Engl J Med. 1999;341(13):936-42. doi:10.1056/NEJM199909233411302. PMID 10498488. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/10498488/
- Ooi MH, Wong SC, Lewthwaite P, et al. Clinical features, diagnosis, and management of enterovirus 71. Lancet Neurol. 2010;9(11):1097-105. doi:10.1016/S1474-4422(10)70209-X. PMID 20965438. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/20965438/
- Steiner MJ, DeWalt DA, Byerley JS. Is this child dehydrated? JAMA. 2004;291(22):2746-54. doi:10.1001/jama.291.22.2746. PMID 15187057. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/15187057/
Nguồn hướng dẫn chuyên môn:
- Bộ Y tế (06/02/2024). Quyết định 292/QĐ-BYT ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh Tay chân miệng. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-292-QD-BYT-2024-Huong-dan-chan-doan-dieu-tri-benh-Tay-chan-mieng-598415.aspx
Nguồn tin trong nước:
- VTV (26/10/2026). Hà Nội còn 29 ổ dịch sốt xuất huyết đang hoạt động. https://vtv.vn/ha-noi-con-29-o-dich-sot-xuat-huyet-dang-hoat-dong-100261026171450162.htm
- VTV (24/10/2026). TP Hồ Chí Minh ghi nhận hơn 1.800 ca tay chân miệng trong tuần. https://vtv.vn/tp-ho-chi-minh-ghi-nhan-hon-1800-ca-tay-chan-mieng-trong-tuan-100261024102604264.htm
Đọc tiếp
- Tình hình tay chân miệng mới nhất
- EV71 và Coxsackievirus: chủng nào nguy hiểm hơn
- Phân biệt tay chân miệng với thủy đậu, nhiệt miệng và sốt phát ban
- Tay chân miệng lây qua đường nào?
- Tay chân miệng ở người lớn
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ











