Mục lục
- 1. Tay chân miệng đang gia tăng ra sao?
- 2. Có thuốc nào diệt được virus tay chân miệng không?
- 3. Tay chân miệng không nên dùng thuốc gì khi chưa có chỉ định?
- 4. Vì sao tuyệt đối không cho trẻ uống aspirin?
- 5. Kháng sinh, corticoid, nhóm pyrazolon: tự dùng có hại gì?
- 6. Hạ sốt: paracetamol theo cân nặng, có nên tự dùng ibuprofen?
- 7. Nốt phỏng và vết loét miệng: bôi gì, tránh bôi gì?
- 8. Khi nào dừng tự xử trí và đưa trẻ đi viện?
- 9. Câu hỏi thường gặp
- 10. Tài liệu tham khảo
- 11. Đọc tiếp
Tay chân miệng chưa có thuốc diệt virus đặc hiệu, nên điều trị tại nhà chủ yếu là hạ sốt đúng liều, cho trẻ ăn uống đủ và theo dõi dấu hiệu nặng. Với câu hỏi tay chân miệng không nên dùng thuốc gì: không dùng aspirin; không tự cho uống kháng sinh, corticoid (uống, tiêm hay bôi), thuốc hạ sốt nhóm pyrazolon; không tự bôi thuốc tê dạng nhớt vào miệng trẻ nhỏ; không đắp lá, không chọc vỡ nốt phỏng. Hạ sốt bằng paracetamol theo cân nặng như hướng dẫn của Bộ Y tế; ibuprofen nên hỏi bác sĩ, dược sĩ trước.
Tóm tắt nhanh
| Câu hỏi | Trả lời ngắn |
|---|---|
| Có thuốc diệt virus không? | Chưa có; chỉ điều trị hỗ trợ |
| Hạ sốt bằng gì? | Paracetamol 10–15 mg/kg/lần, cách 4–6 giờ (QĐ 292/QĐ-BYT) |
| Thuốc tuyệt đối tránh? | Aspirin |
| Kháng sinh, corticoid? | Chỉ khi bác sĩ chỉ định |
| Bôi gì lên nốt? | Không chọc vỡ; dung dịch sát khuẩn chỉ cho nốt đã vỡ |
Tay chân miệng đang gia tăng ra sao?
Theo CDC TP.HCM, tuần 42 (12–18/10/2026) thành phố ghi nhận 1.800 ca, tăng 7,9% so với trung bình 4 tuần trước; lũy kế từ đầu năm hơn 42.315 ca (VTV, 24/10/2026). Cả nước có gần 100.000 ca từ đầu năm tới ngày 06/10/2026, phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi, theo Cục Phòng bệnh (Báo Đầu tư, 06/10/2026); bài báo nhắc phụ huynh không tự ý dùng kháng sinh, thuốc bôi, đắp lá. Không chủ quan nhưng không hoang mang.
Có thuốc nào diệt được virus tay chân miệng không?
Chưa có. Hướng dẫn của Bộ Y tế ghi: “Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ” (Quyết định 292/QĐ-BYT, 06/02/2024). Một tổng quan năm 2023 về EV71, chủng hay gây biến chứng nặng, cũng kết luận chưa có thuốc đặc hiệu; các chất kháng virus vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu (Wei và cộng sự, 2023). Phác đồ không đưa thuốc kháng virus nào vào điều trị, kể cả thuốc dùng cho thủy đậu hay herpes. Trẻ độ 1 được điều trị ngoại trú; việc của cha mẹ là theo dõi để không bỏ lỡ lúc bệnh chuyển độ, xem bài trụ Tay chân miệng: dấu hiệu theo từng ngày, các mức độ và khi nào phải nhập viện.
Tay chân miệng không nên dùng thuốc gì khi chưa có chỉ định?
| Nhóm thuốc | Vì sao không tự dùng | Ai quyết định |
|---|---|---|
| Aspirin | Liên quan hội chứng Reye; Bộ Y tế ghi “Không dùng thuốc Aspirin” | Không dùng |
| Kháng sinh | Không tác động lên virus | Bác sĩ, khi có bội nhiễm |
| Corticoid uống, tiêm, bôi | Liên quan với thể nặng trong nghiên cứu quan sát; phác đồ chỉ xem xét ở độ 3 | Bác sĩ điều trị nội trú |
| Hạ sốt nhóm pyrazolon (như metamizol) | Liên quan với tử vong trong một nghiên cứu; không có trong phác đồ | Không tự dùng |
| Thuốc tê dạng nhớt bôi miệng (lidocain) | Trẻ nhỏ dễ nuốt quá liều | Bác sĩ |
| Lá đắp, thuốc dân gian trên nốt | Dễ xước, bẩn vết loét | Không dùng |

Cột “Ai quyết định” là gợi ý thực hành của ban biên soạn.
Vì sao tuyệt đối không cho trẻ uống aspirin?
Aspirin gắn với hội chứng Reye, bệnh não kèm thoái hóa mỡ ở gan, thường sau cúm hoặc thủy đậu. Giám sát tại Mỹ 1981–1997 ghi nhận 1.207 ca dưới 18 tuổi, 82% có salicylat trong máu, tỷ lệ tử vong 31%; số ca giảm mạnh sau cảnh báo không dùng salicylat cho trẻ nhiễm virus (Belay và cộng sự, 1999). Chưa có dữ liệu riêng cho tay chân miệng, nhưng hướng dẫn của Bộ Y tế ghi thẳng “Không dùng thuốc Aspirin”. Gợi ý thực hành: đọc thành phần gói bột, viên sủi, thuốc cảm phối hợp; thấy aspirin, acid acetylsalicylic hay salicylat thì không dùng.
Kháng sinh, corticoid, nhóm pyrazolon: tự dùng có hại gì?
Kháng sinh không tác động lên enterovirus. Ngay ở độ 4, hướng dẫn của Bộ Y tế vẫn ghi “chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm hoặc chưa loại trừ các bệnh nhiễm khuẩn nặng khác”. Corticoid (methylprednisolon) chỉ được “xem xét” truyền tĩnh mạch ở độ 3, khi hạ sốt tích cực thất bại, tức là trong phòng hồi sức. Nghiên cứu ở Trung Quốc còn ghi nhận:
- Dùng glucocorticoid liên quan với thể nặng; tác giả khuyến cáo không dùng cho tay chân miệng nhẹ (He và cộng sự, 2014).
- So 459 trẻ thể nặng với 246 trẻ thể nhẹ: glucocorticoid là yếu tố nguy cơ độc lập, tỷ số chênh 10,44 (Zhang và cộng sự, 2017).
- So 105 ca tử vong với 210 ca nặng sống sót: thuốc nhóm pyrazolon (tỷ số chênh 2,311), glucocorticoid (5,480) và kháng sinh (2,430) cho tại phòng khám tư vùng nông thôn liên quan với tử vong (Xu và cộng sự, 2011).
Đây là nghiên cứu quan sát, chưa chứng minh thuốc gây bệnh nặng; trẻ ốm hơn có thể đã được cho nhiều thuốc hơn. Nhưng lợi ích chưa được chứng minh, còn tín hiệu rủi ro thì nhất quán.
Hạ sốt: paracetamol theo cân nặng, có nên tự dùng ibuprofen?
Với trẻ độ 1, hướng dẫn của Bộ Y tế ghi: “Hạ sốt, giảm đau bằng Paracetamol liều 10 – 15 mg/kg/lần (uống) hoặc 10-15 mg/kg/lần đặt hậu môn mỗi 4 – 6 giờ”, “hoặc Ibuprofen 5-10 mg/kg/lần mỗi 6 – 8 giờ”. Ibuprofen có trong phác đồ, nhưng trẻ tay chân miệng hay đau miệng, bỏ uống; gợi ý thực hành là trẻ uống ít, tiểu ít hoặc nôn nhiều thì hỏi bác sĩ trước khi dùng. Phối hợp hai thuốc hạ sốt chỉ được nêu ở độ 2a, khi trẻ đã nằm viện.

Cho uống paracetamol an toàn (gợi ý thực hành):
- Cân trẻ, tính liều. Ví dụ: trẻ 12 kg, 120–180 mg mỗi lần.
- Đổi ra ml theo nồng độ in trên nhãn.
- Đong bằng xi lanh uống có vạch ml.
- Cách ít nhất 4 giờ; không vượt số lần ghi trên nhãn.
- Không dùng cùng lúc hai sản phẩm có paracetamol.
Trong thử nghiệm với 2.110 phụ huynh, 84,4% đong sai ít nhất một liều; cốc đong sai nhiều hơn xi lanh khoảng 4,6 lần (Yin và cộng sự, 2016). Trẻ khó ăn uống, xem cho trẻ ăn uống khi đau miệng.
Nốt phỏng và vết loét miệng: bôi gì, tránh bôi gì?
Hướng dẫn của Bộ Y tế dặn “không làm vỡ các mụn nước” và nêu “có thể bôi dung dịch sát khuẩn vào các mụn nước vỡ như dung dịch Povidone-iodine, xanh methylene”; vết loét miệng làm dịu bằng thuốc băng niêm mạc nhóm antacid theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Không nên tự bôi:
- Thuốc tê dạng nhớt vào miệng trẻ nhỏ: một bé 2 tuổi nuốt khoảng 500 mg lidocain nhớt (40 mg/kg) đã co giật liên tục, ngừng tim phải hồi sức 8 phút; tác giả khuyên hạn chế dùng (Kargl và cộng sự, 2014). Đây là báo cáo một ca.
- Kem chứa corticoid hoặc kháng sinh: chỉ khi bác sĩ xác định bội nhiễm hay bệnh da khác.
- Lá đắp, kem đánh răng, dầu gió; dung dịch màu lên nốt còn nguyên: dễ xước, kích ứng, che màu da khi khám lại (gợi ý thực hành).
Cách giữ sạch nốt phỏng từng bước có trong bài chăm sóc nốt phỏng ngoài da và loét miệng cho trẻ.
Khi nào dừng tự xử trí và đưa trẻ đi viện?
Hướng dẫn của Bộ Y tế dặn tái khám ngay khi có: “Sốt trên 39°C hoặc kéo dài trên 48 giờ”; “Nôn ói nhiều”; “Lừ đừ hoặc kích thích”; “Giật mình”; “Thở nhanh, khó thở”; “Hôn mê, co giật”. Lúc này đừng thêm thuốc ở nhà: tăng liều hạ sốt không thay được việc đánh giá biến chứng. Xem trẻ giật mình khi ngủ và dấu hiệu tay chân miệng chuyển nặng. Mang theo vỏ thuốc đã dùng khi đi khám. Tất cả nội dung không thay thế cho chỉ định của bác sĩ. Hỏi ý kiến chuyên gia trước khi dùng.
Ghi chú chuyên môn
“Với tay chân miệng, tủ thuốc gia đình càng gọn càng tốt: một loại thuốc hạ sốt đúng liều theo cân nặng, xi lanh đong thuốc và tờ giấy ghi diễn biến. Kháng sinh, corticoid hay thuốc tê bôi miệng nên để bác sĩ quyết định sau khi khám.”
— Ds Nguyễn Bá Nghĩa, Giám đốc Nghiên cứu & Phát triển, Công ty TNHH Dược phẩm Innocare
Khi nào nên đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay?
- Sốt trên 39°C hoặc kéo dài trên 48 giờ.
- Nôn ói nhiều, bỏ uống, tiểu ít.
- Lừ đừ, quấy khóc vô cớ hoặc giật mình.
- Thở nhanh, khó thở, run tay chân.
- Lỡ cho uống aspirin, quá liều hạ sốt hoặc nuốt thuốc tê bôi miệng.
Câu hỏi thường gặp
Uống kháng sinh có giúp tay chân miệng nhanh khỏi hơn?
Không. Kháng sinh không tác động lên virus; chỉ dùng khi bác sĩ xác định bội nhiễm.
Trẻ nôn, không uống được thuốc thì hạ sốt thế nào?
Phác đồ có paracetamol đặt hậu môn 10–15 mg/kg/lần, không dùng cùng lúc dạng uống. Nôn nhiều là dấu hiệu cần tái khám ngay.
Có nên bôi xanh methylene lên tất cả các nốt?
Không. Phác đồ chỉ nêu cho mụn nước đã vỡ; nốt còn nguyên thì để yên.
Thuốc kháng virus của thủy đậu có dùng được?
Không tự dùng. Chưa có thuốc đặc hiệu cho EV71 (Wei và cộng sự, 2023).
Tài liệu tham khảo
Các đường dẫn dưới đây để ở dạng liên kết trần, bạn sao chép và dán vào trình duyệt để tra cứu bản gốc.
- Wei Y, Liu H, Hu D, et al. Recent Advances in Enterovirus A71 Infection and Antiviral Agents. Lab Invest. 2023;104(2):100298. doi:10.1016/j.labinv.2023.100298. PMID 38008182. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38008182/
- Belay ED, Bresee JS, Holman RC, et al. Reye’s syndrome in the United States from 1981 through 1997. N Engl J Med. 1999;340(18):1377-82. doi:10.1056/NEJM199905063401801. PMID 10228187. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/10228187/
- He Y, Yang J, Zeng G, et al. Risk factors for critical disease and death from hand, foot and mouth disease. Pediatr Infect Dis J. 2014;33(9):966-70. doi:10.1097/INF.0000000000000319. PMID 24577041. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24577041/
- Zhang D, Li R, Zhang W, et al. A Case-control Study on Risk Factors for Severe Hand, Foot and Mouth Disease. Sci Rep. 2017;7:40282. doi:10.1038/srep40282. PMID 28084311. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28084311/
- Xu QH, Gao LD, Huang W, et al. [Risk factors of death cases of hand-foot-and-mouth disease in Hunan province]. Zhonghua Yu Fang Yi Xue Za Zhi. 2011;45(10):904-8. PMID 22321590. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/22321590/
- Yin HS, Parker RM, Sanders LM, et al. Liquid Medication Errors and Dosing Tools: A Randomized Controlled Experiment. Pediatrics. 2016;138(4). doi:10.1542/peds.2016-0357. PMID 27621414. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/27621414/
- Kargl S, Hornath F, Rossegg U, et al. Status epilepticus, cardiac resuscitation, and posterior reversible encephalopathy syndrome after ingestion of viscous lidocaine: a plea for more childproof packaging of pharmaceuticals. Pediatr Emerg Care. 2014;30(3):185-7. doi:10.1097/PEC.0000000000000091. PMID 24589808. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/24589808/
Nguồn hướng dẫn chuyên môn:
- Bộ Y tế (06/02/2024). Quyết định 292/QĐ-BYT ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh Tay chân miệng. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-292-QD-BYT-2024-Huong-dan-chan-doan-dieu-tri-benh-Tay-chan-mieng-598415.aspx
Nguồn tin trong nước:
- VTV (24/10/2026). TP Hồ Chí Minh ghi nhận hơn 1.800 ca tay chân miệng trong tuần. https://vtv.vn/tp-ho-chi-minh-ghi-nhan-hon-1800-ca-tay-chan-mieng-trong-tuan-100261024102604264.htm
- Báo Đầu tư (06/10/2026). Tay chân miệng gia tăng tại Hà Nội, cảnh báo nguy cơ dịch bệnh phức tạp. https://baodautu.vn/tay-chan-mieng-gia-tang-tai-ha-noi-canh-bao-nguy-co-dich-benh-phuc-tap-d714194.html
Đọc tiếp
- Phân biệt tay chân miệng với thủy đậu, nhiệt miệng và sốt phát ban
- Tay chân miệng lây qua đường nào?
- Khử khuẩn nhà cửa, đồ chơi
- Tình hình tay chân miệng mới nhất
- EV71 và Coxsackievirus
Bài viết do đội ngũ chuyên môn PlasmaKare – Công ty TNHH Dược phẩm Innocare biên soạn, nhằm cung cấp kiến thức chăm sóc da và niêm mạc. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế cho chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Sản phẩm PlasmaKare là trang thiết bị y tế, không phải thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
PlasmaKare — Chăm sóc da và niêm mạc
Chịu trách nhiệm sản phẩm và phân phối: Công ty TNHH Dược phẩm Innocare — 558 Quang Trung, phường Dương Nội, Hà Nội.
Hotline 024 6680 0369 · Zalo 0968 734 102 · Liên hệ









